SƠ LƯỢC HỌ ĐOÀN

Sự hình thành và phát triển họ Đoàn ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.

Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:

1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)

2. Châu Diên (Sơn Tây)

3. Phúc Lộc (Sơn Tây)

4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)

5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)

6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)

7. Lục Hải (Lạng Sơn)

8. Ninh Hải (Quảng Yên)

9. Dương Tuyền (Hải Dương)

10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)

11. Cửu Chân (Thanh Hóa)

12. Hoài Hoan (Nghệ An)

13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)

14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)

15. Bình Văn ( ? )

Nước Việt Nam ta về đời Hồng Bàng (2897 - 258 trước Tây lịch) gọi là Văn Lang, đời Thục An Dương Vương (257 - 207 trước Tây lịch) thì gọi là Âu Lạc. Đến nhà Tần (246 - 206 trước Tây lịch) lược định phía nam thì đặt làm Tượng Quận, sau nhà Hán (202 trước Tây lịch - 220 sau Tây lịch) dứt nhà Triệu, chia đất Tượng Quận ra làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Đến cuối đời nhà Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao Chỉ làm Giao Châu. Nhà Đường lại đặt là An Nam Đô Hộ Phủ.

Từ khi nhà Đinh (968 - 980) dẹp xong loạn Thập Nhị Sứ Quân, lập nên một nước tự chủ, đổi quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Vua Lý Thánh Tông đổi là Đại Việt, đến đời vua Anh Tông, nhà Tống bên Tàu mới công nhận là An Nam Quốc.

Đến đời vua Gia Long, thống nhất được cả Nam Bắc (1802), lấy lẽ rằng Nam là An Nam, Việt là Việt Thường, mới đặt quốc hiệu là Việt Nam. Vua Minh Mệnh lại cải làm Đại Nam.

Quốc hiệu nước ta thay đổi đã nhiều lần, tuy rằng ngày nay ta vẫn theo thói quen dùng hai chữ An Nam, nhưng vì hai chữ ấy có ngụ ý phải thần phục nước Tàu, vậy thì ta nên nhất định lấy tên Việt Nam mà gọi nước nhà.

Người Việt Nam có nhiều dân tộc ở, như là ở về miền thương du Bắc Việt thì có dân Thái, (tức là Thổ), Mường, Mán, Mèo; ở về miền rừng núi Trung Việt thì có dân Mọi, và Chàm (tức là Hời), ở về miền Nam Việt thì có dân Mọi, Chàm, Chà Và và Khách, v.v.... Những dân ấy ở trong ba nơi tất cả đến non một triệu người. Còn thì dân tộc Việt Nam ở hết cả.

Người Việt Nam thuộc về loài da vàng, nhưng mà người nào phải đi làm lụng dầm mưa dãi nắng lắm, thì nước da ngăm ngăm đen, người nào nhàn hạ phong lưu, ở trong nhà luôn, thì nước da trăng trắng như màu ngà cũ.

Trạc người thì thấp nhỏ hơn người Tàu, mà lăn lẳn con người, chứ không to béo. Mặt thì xương xương, trông hơi bèn bẹt, trán thì cao và rộng, mắt thì đen và hơi xếch về đàng đuôi, hai gò má thì cao, mũi hơi tẹt, môi hơi dày, răng thì to mà lại nhuộm đen. Râu thì thưa mà ít, tóc thì nhiều và dài, đen và hơi cứng. Dáng điệu đi đứng thì nhẹ nhàng và xem ra bộ vững vàng chắc chắn.

Áo quần thì dài rộng, đàn ông thì búi tóc và quấn khăn vành rây, áo mặc dài quá đầu gối, tay áo thì chật, ống quần thì rộng. Đàn bà ở Bắc Việt và phía bắc Trung Việt thì đội khăn, mà ở chỗ thành thị thì mặc quần, còn ở nhà quê thì hay mặc váy. Ở phía nam Trung Việt và Nam Việt thì đàn bà hay mặc quần cả, và búi tóc, chứ không đội khăn bao giờ.

Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có tính tình vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật.

Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma quỷ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tông giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn.

Đàn bà thì hay làm lụng và đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm được đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con, thường giữ được các đức tính rất quý là: tiết, nghĩa, cần, kiệm.

Người Việt Nam từ Bắc chí Nam, đều theo một phong tục, nói một thứ tiếng, {Tuy rằng mỗi nơi có một ít tiếng thổ âm riêng và cái giọng nói nặng nhẹ khác nhau, nhưng đại để thì vẫn là một thứ tiếng mà thôi.} cùng giữ một kỹ niệm, thật là cái tính đồng nhất của một dân tộc từ đầu nước đến cuối nước.

Tên người Việt Nam được các nhà nghiên cứu cho rằng bắt đầu có từ thế kỷ 2 trước Công nguyên và càng ngày càng đa dạng hơn, trong khi đó có ý kiến khác cho rằng: "sớm nhất Việt Nam có tên họ vào khoảng đầu Công Nguyên". Không có một nguyên tắc chung nào trong việc đặt tên, nhưng đối với tâm lý của người Việt Nam, việc đặt tên rất quan trọng vì mỗi cái tên gắn chặt với mỗi con người suốt đời. Có thể căn cứ vào đặc điểm, giới tính, hoàn cảnh gia đình, dòng họ, quê hương, xã hội và cả ước vọng của người đặt tên gửi gắm vào cái tên nào đó. Tên người Việt Nam gồm có 3 phần chính: Họ + Tên Đệm + Tên Chính thường được chọn lựa khá kỹ về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa, dùng để phân biệt người này với người khác. Ngày nay, không ít người Việt đặt tên cho con theo tiếng nước ngoài.

Họ Đoàn là một trong hàng trăm dòng họ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam có cách đây hàng ngàn năm lịch sử.

Trải qua các triều đại từ Hùng vương, qua Đinh, Lý, Trần, Lê…tổ tiên họ Đoàn cũng như các thế hệ tiếp nối đã chuyển cư đến nhiều vùng của đất nước, đến nay có hàng mấy chục đời. Với nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử và thời gian quá lâu, gia phả qua nhiều đời sao chép, do đó có sự mất mát đáng kể.

Việc xác định ai là cụ tổ đầu tiên của họ Đoàn đã định cư trên đất nước ta vào thời đại nào, là vấn đề còn phải tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu.

Trong khi chưa có nhiều thông tin và tư liệu về dòng họ, nhiều các chi họ hiện nay, thường coi các vị tổ của mình là người cao nhất mà gia phả mình ghi lại được hoặc truyền khẩu lại qua các thế hệ - đó là Đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta. Việc suy tôn vị tổ của Tộc họ mang tính huyết thống riêng cũng vậy (như họ Đoàn, họ Vũ, họ Đỗ, họ Phan…), thường suy tôn một vị là tổ của họ (hoặc cao tổ, thủy tổ.. như cụ Vũ Hồn, cụ Phạm Tu…) và lấy ngày giỗ của người ấy là ngày giỗ tổ. Dân tộc ta cũng vậy, dù lịch sử cho biết thủy tổ nước Nam là Kinh Dương Vương (có đền thờ tại Thuận Thành - Bắc Ninh), nhưng từ lâu nhân dân ta vẫn coi đền Hùng nơi thờ tổ và lấy ngày 10/3 hàng năm là ngày giỗ, Mặc dù còn có một số ý kiến khác nhau, nhưng theo chúng tôi thì đây vẫn có thể coi là việc làm tốt đẹp mang ý nghĩa cao quý, tôn vinh các vị tiên tổ, vì các vị đó là một trong các vị viễn tổ của dòng họ. Các vị tổ đó được coi là một trong các viễn tổ của cả họ, là thần chủ của đình, đền, từ đường dòng họ, để con cháu thờ cúng, tế lễ, tưởng niệm các vị thủy tổ, cao tổ, viễn tổ chung của cả dòng họ. Ngày giỗ tổ được tổ chức tế lễ cũng là ngày quần tụ của con cháu, để bày tỏ lòng thành kính, tri ân công đức các vị tiên tổ chung của cả họ, để mọi người giao lưu đoàn kết, động viên con cháu giữ gìn nề nếp gia phong, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản mà tiền nhân để lại, phấn đấu vì một tương lai tốt đẹp. Đó là ngày hội truyền thống của những người cùng huyết thống, là niềm tự hào, là niềm tin của các thế hệ con cháu đối với truyền thống tốt đẹp của tổ tiên. Đáp ứng lòng thành kính của con cháu, hương linh của các vị Thủy tổ, Cao tổ,Viễn tổ của dòng họ dù ở đâu cũng sẽ quần tụ về đó thụ hưởng và phù hộ cho con cháu.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin hiện nay, những hoạt động tích cực của Hội đồng Đoàn tộc Việt Nam và các địa phương, của các vị Trưởng tộc mà hành trình tìm về cội nguồn, kết nối dòng tộc ngày càng thuận lợi. Nhiều bộ gia phả được khai thác, nghiên cứu, làm sáng tỏ hơn nguồn gốc dòng họ. Đã và sẽ có nhiều sự kiện, nhân vật của họ Đoàn từ rất xa xưa được phát hiện ở những thời điểm khác nhau của lịch sử, nhưng tất cả những nhân vật đó có cùng trực hệ hay thuộc các dòng khác thì cần được nghiên cứu khẳng định.

Nhiều vấn đề như mối quan hệ giữa các dòng họ ở nhiều nơi khác nhau, trước và sau sự xuất hiện của người họ Đoàn từ thời Hùng vương đến khoảng thế kỷ thứ V SCN (khi mà thông tin dòng họ đã được ghi lại qua các bản thần tích, thần sắc, ngọc phả, gia phả, văn chỉ, đình đền, từ đường, lăng mộ, lễ hội, sự kiện lịch sử mà người họ Đoàn tham gia…), họ đã di cư đến những đâu, tư liệu về họ còn lại những gì, mối quan hệ huyết thống của những người họ Đoàn cùng thời với những người cùng mang tên họ được ghi chép ra sao?…Điều đó, cần phải nghiên cứu kỹ hơn, dựa vào nhiều nguồn tư liệu khác nhau, vào các kết luận của nhiều ngành khoa học như lịch sử, văn hóa, xã hội, khảo cổ, công nghệ gien…

Theo số liệu điều tra xã hội học cho biết số lượng người họ Đoàn trên cả nước ta hiện nay là khoảng gần 2 triệu người, phân bố dải rác trên nhiều vùng cả nước, nhiều nhất là Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà tĩnh, Bắc giang, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Hưng yên, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Bình. Các bộ gia phả ghi chép cổ nhất, chứa đựng nhiều dữ liệu nhất đều nằm ở các chi họ thuộc các tỉnh này, phần nhiều nội dung đều nói cho biết khởi tổ của họ đều từ vùng Hải Dương di cư vào, có tài liệu lại cho biết tổ tiên họ Đoàn phát tích từ Sơn Lĩnh

Sách “Đoàn tộc phả ký” của họ Đoàn ở Chạ Mắt (thôn Tu Trình, xã Thụy Hồng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) do tổ Đoàn Công Phúc Lãnh đỗ khoa thi “Thiên hạ sỹ nhân” năm Bính Tuất 1166, niên hiệu Chính Long Bảo ứng thứ 4 đời vua Lý Anh Tông, làm quan huyện lệnh huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (Gia Lộc, Hải Dương), thăng Đại thần hà đê, tước Hải hâu, chép sách Đoàn tộc phả ký năm Nhâm Thân 1212 . Đầu phả có câu:

“Khôi nguyên Sơn Vi phát tích

Nghĩa Lĩnh chi thủy trường lưu”

Sơn Vi - Nghĩa Lĩnh, gọi gộp là Sơn Lĩnh (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam).

Nhiều bộ gia phả mới ghi được khoảng 100 – 200 năm trở lại đây và chưa rõ nguồn gốc đi cư đến.

Vì vậy chúng tôi căn cứ vào các tư liệu tổng hợp từ các bộ gia phả ở một số địa danh có ghi chép khá đầy đủ, số lượng đời nhiều nhất, hợp phả có sức thuyết phục nhất, đối chiếu với các sự kiện và nhân vật lịch sử đã được ghi chép trong các tài liệu chính sử, huyền sử, trong truyền khẩu dân gian, trong các bản ngọc phả, thần tích, thần sắc, nội dung các bức đại tự, hoành phi, câu đối ở các đình, đền, miếu mạo, từ đường, lăng mộ, các lễ hội tưởng nhớ hàng năm tại các địa phương; căn cứ vào các tài liệu dư địa chí lịch sử, địa lý, văn hóa để xác minh địa danh các vùng miền ở từng giai đoạn lịch sử mà biên soạn phần này.

Trong khuôn khổ những thông tin ban đầu, phần này sẽ trình bày một cách sơ lược lịch sử phát triển của họ Đoàn trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc với một số lưu ý về cách trình bày như sau:

Theo dòng lịch sử dân tộc, sự xuất hiện của người họ Đoàn (Thường là những nhân vật nổi tiếng đã được ghi chép trong truyền thuyết dân gian, trong gia phả, thần tích, thần sắc, quốc sử…) sẽ được trình bày theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau của dân tộc. Giai đoạn lịch sử nào chưa có tài liệu, hoặc có nhưng chưa có đủ cơ sở hợp lý chứng tỏ sự xuất hiện của người họ Đoàn thì chưa trình bày, hoặc có thì chỉ là các thông tin ban đầu để tiếp tục nghiên cứu.

Một số giai đoạn lịch sử mang tên các triều đại có sự đan xen do triều đại trước chưa mất đi thì đã có triều đại mới (triều Mạc, 1527-1592, triều Lê Trung hưng,1533-1593, các triều Nguyễn- Trịnh, Tây sơn…), vì vậy trong cùng thời gian những nhân vật họ Đoàn tham gia vào các sự kiện lịch sử đương thời cũng khác nhau triều đại. Có nhân vật được sinh ra hoặc thi đỗ ở triều đại này nhưng phần lớn lại tham gia vào các sự kiện của triều đại khác, hoặc sinh ra trong giai đoan lịch sử này nhưng trưởng thành lại tham gia vào các sự kiện của gia đoại lịch sử sau. Do đó cách trình bày về nhân vật ấy theo triều đại nào chỉ là tương đối.

Những nhân vật có ghi chép trong gia phả có huyết thống trực hệ thì sách ghi là tổ đời 1, đời 2.., những nhân vật chưa biết rõ nguồn gốc thuộc dòng nào, chi, ngành nào thì sách chỉ ghi tên (ghi như thế chỉ tạm qui ước để dễ trình bày chứ không có ý nghĩa phân biệt khác).

1.HỌ ĐOÀN THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG

Sách “Đoàn tộc phả ký” của họ Đoàn ở Chạ Mắt (thôn Tu Trình, xã Thụy Hồng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) do tổ Đoàn Công Phúc Lãnh đỗ khoa thi “Thiên hạ sỹ nhân” năm Bính Tuất 1166, niên hiệu Chính Long Bảo ứng thứ 4 đời vua Lý Anh Tông, làm quan huyện lệnh huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (Gia Lộc, Hải Dương), thăng Đại thần hà đê, tước Hải hâu, chép sách Đoàn tộc phả ký năm Nhâm Thân 1212 . Đầu phả có câu:

“Khôi nguyên Sơn Vi phát tích

Nghĩa Lĩnh chi thủy trường lưu”

Đã nói rõ tổ tiên họ Đoàn phát tích và đã định cư lâu dài sinh tồn, phát triển dòng họ tại Sơn Vi - Nghĩa Lĩnh, gọi gộp là Sơn Lĩnh (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam). Rồi từ nguồn gốc Sơn Vi - Nghĩa Lĩnh có nhiều vị đã chuyển cư đến định cư lâu bền ở nhiều nơi trên lãnh thổ của người Lạc Việt, Bách Việt.


Đất Sơn Vi - Nghĩa Lĩnh có nhiều di chỉ khảo cổ nhiều tầng văn hóa của người Lạc Việt trung tâm của Bách Việt từ thời Nguyên thủy, thời Hùng Vương...

Sơn Vi - Nghĩa Lĩnh có núi Hùng là đầu Rồng, hướng Nam, mình rồng uốn lượn thành rặng mạch núi Trọc, núi Văn, núi Pheo. Núi Hùng hơ cao 175 mét so mặt nước biển. Từ núi Hùng tỏa sáng tầm nhìn các hướng. Phía trước núi Hùng là ngã 3 Việt Trì (Ao Việt) là nơi tụ thủy hợp lưu 3 dòng sông lớn: sông Thao Giang (đoạn đầu sông Hồng) nước đỏ phù sa bồi đắp ruộng đồng phì nhiêu, sông Lô Giang nước xanh và sông Đà Giang thơ mộng, cùng những phụ nguồn chi lưu như Rồng ngũ sắc. Lại có hàng chục quả đồi lô nhô như đàn Rùa bò từ nước lên làm mình đường khai hoa, tiền án cao phong của núi Hùng. Phía sau núi Hùng là Hy Sơn (Tiên Kiên) như hình chim phượng cặp thư làm hậu chẩm thổ cục tẩm thủy của núi Hùng. Bên trái có quả đồi An Thái hình Rồng làm tả thanh long của núi Hùng. Bên phải núi Hùng có quả đồi Khang Phụ (Chu Hóa) như Hổ phục làm hữu bạch hổ của núi Hùng. Làng cổ Tích ở chân núi Hùng, Phúc Lộc, Thậm Thình có 100 quả đồi như hình Voi có một con lạc đường 99 con chầu núi Hùng.

Theo Ngọc phả thần tính đền Bình Ngô (nay thuộc xã An Bình, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) thờ vua Kinh Dương Vương, vua Lạc Long Quân - mẫu Âu Cơ và vua Hùng Quốc Vương, có chép: một trăm mười tám (118) vị vua của 18 triều đại Hùng Vương đều mang quốc tính, họ Hùng biểu thị thời đại Hùng Vương nhất nguyên thể chế, đồng bào nhất tâm xây dựng và bảo vệ nước Văn Lang tồn tại dài 2622 năm từ năm Nhâm Tuất 2879 TCN đến năm Giáp Thìn 257TCN. Các vua Hùng đều chọn con em có tài đức phong làm Lạc tướng sai đi cai quản 15 bộ (hành chính) của nước Văn Lang, rồi định cư lập dòng họ ở đó.

Thái tổ triều đại Hùng Vương thứ ba là Đoàn Lân là hậu duệ ngoại của Thái thượng quốc tổ Kinh Dương Vương Lạc Long Quân, lập ra triều đại Hùng Quốc Vương có 15 đời vua đều mang vương hiệu Hùng Quốc Vương trị vì nước Văn Lang 272 năm từ năm Đinh Tỵ 2524TCN đến năm Đinh Hợi 2252TCN cũng theo lệ cử con em là người họ Đoàn làm lạc tướng đi tri nhậm các bộ, đã sản sinh ra những chi họ Đoàn ở Điền Việt, Sở Việt, Mân Việt, Ngô Việt, Động Đình, Vũ Ninh, Dạ Nang, Tây Việt, Tây Vu, Âu Việt, Tây Âu, Tượng Việt, Dương Tuyền, Việt Thường. Theo nhân chủng học, dân tộc học những người họ Đoàn ở các địa danh cổ kể trên đều có gốc từ họ Đoàn ở Lạc Việt cùng có bộ gien di truyền thuộc chủng người Australoid. Từ năm Canh ngọ 111 TCN bị giặc Hán phương bắc xâm lược đô hộ, đến nay những người họ Đoàn từ Lạc Việt (ở lưu vực Hoàng Hà) đến định cư ở lưu vực Trường Giang, lưu vực thượng nguồn Cửu Long (sông Lan Thương Mê Kông) đã bị Hán hóa thành người Tàu (Trung Quốc) gốc Bách Việt. Họ Đoàn mà âm tự Hán gọi là họ Đoạn.

Ngọc phả thần tích Thành hoàng làng Hà Hương - Hà Phương chép: “Năm Quý Tị 208 TCN, Thục An Dương Vương trên đường đi đánh dẹp giặc đã dừng chân đồn trú tại khu Gáo đất chạ Hà Hôi (nay là Hà Phương Gáo - thôn Hà Hương). Ông Nguyễn Khánh và con trai là Nguyễn Đức, con nuôi là Đoàn Nhất Lang (muội danh) đã đem của cải vận động dân chạ (làng) đóng góp lễ vật, lương thảo cho nhà vua nuôi quân. Các ngài còn tổ chức hơn 2 chục trai tráng bảo vệ an toàn hành cung và đức vua. Cha con ông Nguyễn Khánh, Nguyễn Đức được nhà vua ban sắc phong á thần. Ông Phọ Đoàn được thờ là Hậu thần được hưởng lễ phối tế. Vua An Dương Vương còn tặng 3 ông mỗi người một tấm khăn kim tuyến hiện còn lưu giữ bảo quản tại miếu Hà Phương Bến.

Đình Hà Hương thờ chính vị Thành hoàng bản xã Thục Triều An Dương Vương tên húy là Thục Phán, bằng tượng.

Có một công trình nghiên cứu hơn 50 năm của nhà giáo Đỗ Văn Xuyền và cộng sự với sự gợi ý, chỉ đạo, giúp đỡ của nhiều nhà khoa học cùng các nhóm nghiên cứu đã công bố gần đây, gây sự quan tâm nhiều của xã hội. Công trình đã đưa ra những chứng cứ khai thác từ nhiều vùng trên cả nước, của nhiều dân tộc khác nhau, phân tích một cách khoa học và khẳng định ngay từ thời Hùng Vương, nước ta đã có một nền văn hóa phát triển tiến bộ, có hệ thống giáo dục khá toàn diện, có chữ viết riêng rất khoa học, có thày trò, trường lớp rất qui củ.

Có một công trình nghiên cứu hơn 50 năm của nhà giáo Đỗ Văn Xuyền và cộng sự với sự gợi ý, chỉ đạo, giúp đỡ của nhiều nhà khoa học cùng các nhóm nghiên cứu đã công bố gần đây, gây sự quan tâm nhiều của xã hội. Công trình đã đưa ra những chứng cứ khai thác từ nhiều vùng trên cả nước, của nhiều dân tộc khác nhau, phân tích một cách khoa học và khẳng định ngay từ thời Hùng Vương, nước ta đã có một nền văn hóa phát triển tiến bộ, có hệ thống giáo dục khá toàn diện, có chữ viết riêng rất khoa học, có thày trò, trường lớp rất qui củ. Công trình nghiên cứu trên của nhà giáo Đỗ Văn Xuyền cho biết: Từ các thư tịch cổ ở nhiều nơi trong cả nước đã ghi lại danh sách các thầy giáo và học trò thời Hùng Vương. Bước đầu chúng ta biết từ thời Hùng Huy Vương (Hùng Vương thứ 6) đến An Dương Vương có 19 thầy giáo dạy 18 trường học ở kinh đô và địa phương, với số học trò được biết là 23 người. ... Ở mục 11 của bài giới thiệu có ghi về 3 người học trò như sau: “Ông Nguyễn Xuân và vợ là Đoàn Thị Nghị ngày 10/3 sinh một bọc được 3 người con giai thật là kỳ vỹ. Con thứ nhất đặt tên là Tuấn, con thứ 2 đặt là Chiêu, con thứ 3 đặt là Minh. Năm lên 9 tuổi cả 3 anh em đều đi học ở làng Cổ Lễ, xã An Canh, huyện Thiên Thi (nay là Ân Thi Hưng Yên). Ba ông có công đánh quân Thục xâm chiếm, khi hoá nhân dân Cỗ Lễ thờ làm “Tam vị Thành Hoàng”.

Khi hóa được thờ hợp tự tại Cổ Lễ. Thánh hiệu là:

Tuấn Công Đại Vương

Chiêu Công Đại Vương

Minh Công Đại Vương

(ngày 29/01/2013, NXB Hồng Đức phối hợp với Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam đã tổ chức họp báo giới thiệu công trình nghiên cứu này).

Nếu khoa học thừa nhận từ thời Hùng Vương nước ta đã có một hệ thống giáo dục, có chữ viết như công trình nghiên cứu của ông Đỗ Văn Xuyền, thì sự có mặt của người họ Đoàn ở thời đại Hùng Vương (Bà Đoàn Thị Nghị), được coi là “sự thực lịch sử” đã có cả hai yếu tố quan trọng đó là: Bản chữ viết cổ (nêu trên) và thần tích, thần sắc của đình làng cùng lễ hội hàng năm của làng Cổ Lễ, xã An Canh, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên , hiện còn duy trì, tồn tại đến nay. Vậy có thể cho phép chúng ta kết luận?

“Họ Đoàn Việt Nam là một trong các dòng họ bản địa, có mặt trên đất Việt từ Thời Hùng Vương dựng nước.

Mỗi người họ Đoàn đều có quyền tự hào là con Lạc cháu Hồng, dòng họ mình đã cùng Cộng đồng dân tộc đóng góp tích cực vào tiến trình lịch sử ngay từ buổi đầu dựng nước.

Theo dòng lịch sử, những tên tuổi họ Đoàn được nhắc đến như Năm tân-sửu (41) vua Quan-vũ sai Mã Viện làm Phục-ba tướng-quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với quan Lâu-thuyền tướng quân là Đoàn Chí sang đánh Trưng-vương. Mã Viện đánh được Trưng-vương đem đất Giao-chỉ về thuộc nhà Hán như củ, rồi chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp lũy đến đấy và biến cải mọi cách chính trị trong các châu quận. Đem phủ-trị về đóng Mê-linh13 và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: "Đồng trụ chiết, Giao-chỉ diệt." Nghĩa là cây đồng trụ mà đổ thì người Giao-chỉ mất nòi.

Sử chép rằng người Giao-chỉ đi qua lại chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân cột đồng-trụ một hòn đá, cho nên về sau chỗ ấy thành ra núi, phủ mất cả, đến bây giờ không biết cột ấy ở chỗ nào.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ mùa xuân năm Canh Tí 40 SCN có trên 5 chục nữ đại tướng, kỳ tài, trên 4 chục nam đại tướng thao lược dưới sự lãnh đạo của Trưng Nữ Vương anh minh đã tổ chức toàn dân Việt đoàn kết phát động tổng khởi nghĩa đánh đuổi tên Thái thú Tô Định gian ác lật đổ ách đô hộ của giặc Đông Hán. Phong trào nhanh chóng lan rộng tỏa ra khắp châu (bộ) Giao Chỉ. Trong thời gian ngắn quân dân Việt đã đồng loạt đánh chiếm 65 thành trụ sở châu, quận, huyện. Giải phóng hoàn toàn 4 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và một số huyện ở các quận Nam Hải, uất Lâm, Tượng Quân, Đạm Nhĩ, Chu Nhai nổi dậy hưởng ứng chống giặc Đông Hán làm trấn động mạnh triều đình giặc Đông Hán, bọn quan quân đô hộ run sợ bỏ chạy trốn...

Thắng lớn giải phóng dân tộc, phục quốc, lập nước Lĩnh Nam có cương vực lãnh thổ từ Lưỡng Quảng nam núi Ngũ Lĩnh (TQ) đén huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam (cực nam Trung bộ Việt Nam). Nhiều người họ Đoàn tham gia lực lượng khởi nghĩa phục quốc và kháng chiến chống giặc Mã Viện - Đông Hán. Điển hình là họ Đoàn ở Thiếm Khê còn gọi là Thiểm Sơn. Thời Hán thuộc huyện Câu Lậu, quận Giao Chỉ, thời Lý thuộc lộ Đông Hải, thời Trần là Hải Đông. Trước năm 1945 là xã Thiểm Khê, tổng Trúc Động, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên. Nay là thôn Thiểm Khê, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Núi Thiếm Sơn (Thiểm Khê) theo sách “Đại Nam thống nhất chí” cho biết cách núi Dẹo (Diệu Sơn) còn gọi núi Đèo huyện Thủy Đường (Thủy Nguyên) 12 dặm phía Bắc, đất đá lẫn lộn tục gọi là Thành "Thạch Bích". Khu vực có trên 20 ngọn núi liên tiếp nối với núi Thiếm Sơn. Đường sông đến núi Thiểm Khê chia làm 3 nhánh chi lưu, nên thường gọi là ngã ba sông Bạch Đằng, Đá Bạc (Thạch Giang), Sông Giá, tạo địa hình cảnh quan và vị trí chiến lược bảo vệ đất nước quê hương.

Núi nhiều khúc như Kình phanh sấu chặt

Bãi nhiều tầng như giáo gẫy kích chìm

Quan hà hiểm yếu do trời đặt

Hào kiệt lập công ở đất này.

Ngọc phả thần tích thần Thành hoàng làng Thiểm Khê chép: “Thời Bắc thuộc Đông Hán, họ Đoàn ở Thiểm Khê có Bà Đoàn Thị Gái lấy ông Trương Dụ, ngoài 30 tuổi mới sinh một bọc 3 con trai vào giờ Dần ngày mùng 6 tháng 9 năm Nhâm Tuất (tương dương lịch là năm 2 SCN). Diện mạo 3 anh em trai đều khôi ngô đĩnh ngộ, lên 3 tuổi được đặt tên vị anh cả là Te, thứ hai là Lại, vị thứ ba là Độ. Năm 13 tuổi học lực thông minh, tinh nghề thao lược. Đến năm ất Dậu 25 SCN, cha của 3 ngài qua đời ngày 17 tháng 8 âm lịch khi các ngài mới 24 tuổi, gia tài khánh kiệt. Hồi đó giặc Tô Định làm thái thú cai trị quận Giao Chỉ thuộc Châu Giao Chỉ, gây nhiều bạo ngược. Bà Đoàn Thị Gái cùng 3 con là Te, Lại và Độ tổ chức nhiều người họ Đoàn và dân trong vùng huấn luyện thành đoàn nghĩa binh tới hơn trăm người kéo về Hạ Lôi và Hát Môn hội quân theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh đuổi giặc Đông Hán, lập nước Lĩnh Nam. Bà Đoàn Thị Gái và 3 con là Tế Công, Lại Công, Độ Công đều được vua Bà Trương Vương phong tướng cắt cử cầm quân trấn giữ cửa sông Bạch Đằng, cùng phối hợp tác chiến với quân của nữ tướng Lê Chân chặn đánh quân giặc Mã Viện nhiều trận. Nữ tướng Lê Chân cử tướng Lại Công tăng cường cho cánh quân ta giữ cửa biển Hợp Phố. Giặc Đông Hán Mã viện cho thủy quân tiến vào cửa sông Đông Kênh rồi vào sông Bạch Đằng thì cánh quân ta do Lại Công chỉ huy chiến đấu dũng cảm chặn giặc.

Sau thắng trận, các ngài về mở tiệc đãi yến quân dân trong vùng, rồi các ngài đều hóa ngày 21 tháng 12 âm lịch (tháng chạp). Khi đó trời quang mây sáng, dân quê hương (làng xóm) thấy mối xông đùn lên 3 đống mồ. Dân xây lăng mộ và lập miếu thờ ở gần 3 ngôi mộ Tế Công, Lại Công, Độ Công. Thờ Thánh mẫu Đoàn Thị Gái và 3 con của Bà bằng ngai rồng bài vị có mũ áo cân đai bằng giấy, thuyền, súng, khí giới bằng gỗ sơn son thiếp vàng.

Đình làng Thiểm Khê còn thờ 3 vị thần Thành hoàng là thần Sơn Nhạc, thần Đông Hồ và nhân thần Đông Hải đại vương Đoàn Thượng, làm Thái sư, Thái úy trung thần triều Lý.

Năm Canh Ngọc 111 TCN, giặc Hán Vũ đế Lưu Triệt sai tên Phục Ba tướng quân Lô Bác Đức và Phó tướng Dương Bộc đem hàng chục van cường binh chai 5 đạo sang xâm lược nước Nam Việt, đánh phá kinh đô Phiên Ngung, các Điền sứ ở quận Nam Hải, uất Lâm theo làm tay sai nội ứng cho giặc Hán.

Lực lượng kháng chiến thất thủ, tể tướng Lữ Gia đem vua Triệu Dương Vương chạy về quận Giao Chỉ. Nhiều người Việt trong đó có những người họ Đoàn ở Sổ lễ ( Thiên Thi, Hưng Yên ), ở Kẻ Noi, Kẻ Cáo ( Từ Liêm, Hà Nội ), ở Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Tây )... do Thủ lĩnh Đoàn Dài lãnh đọa nghĩa quân giúp tể tướng Lữ Gia lập căn cứ kháng chiến chống giặc Hán tại vùng Sài Sơn - Núi Thày. Giặc Hán bao vây hang núi Sài Sơn tiêu diệt hơn hai nghìn quân Nam Việt, vua Triệu Dương Vương và Tể tướng Lữ Gia... bị hại.

Kháng chiến chống giặc Hán đã để lại bài học lịch sử và truyền thống nêu cao tinh thần xả thân vì nước của nhân dân Việt và người họ Đoàn kiên cường bảo vệ tổ quốc, bảo vệ văn hóa văn minh Việt.

Sách "Thiền uyển tập anh" chép Thiền Sư Tín Học (? - 1190SCN ) trụ trì chùa ở núi Không Lộ gọi là chùa Thày tại Sài Sơn ( huyện Quốc Oai, Hà Tây- Hà Nội ) gia đình nhiều đời làm nghề khắc bản gỗ thị in kinh sách. Thiền Sư Tín Học đã kể lại sự tích thời vua Triệu Dương Vương và Tể tướng Lữ Gia, nghĩa tướng Đoàn Dài lập căn cứ ở Sài Sơn - chùa Thày kháng chiến chống giặc Hán năm Canh Ngọ 111 trước công nguyên...

Sách "Thiên Nam ngữ lục " chép Thiền sư Chân Nguyên ( 1647-1728 SCN) trụ trì chùa Thày - Sài Sơn cũng kể lại chuyện Tể tướng Lữ gia và nghĩa quân Nam Việt chủ yếu là người quận Giao Chỉ lập căn cứ chống giặc Hán tại vùng núi rừng Sài Sơn. Giặc Hán vây hãm tiêu diệt hơn hai nghìn quân Nam Việt cố thủ trong hang núi, Lữ Gia bị đánh bại Thiền Sư Thích Chân Nguyên viết :

Gia bỏ cửa mốc nhà rêu

Hang thần trật lối, hồn phiêu đường nào?

Nước nên thấy những đồng dao

Cõi bò tất đất mất vào Hán gia!

Non Sài tuyệt chẳng vào ra.

Thấy còn một dấu vườn là trúc viên.

Đìu hiu ngoài cảnh Thiền Thiên!

Thủa trưa Quên khóc, thủa đêm hạc sầu!

Giặc Hán Vũ đế Lưu triệt xâm lược nước

Nam Việt, diệt nhà Triệu, mở đầu thời

Bắc thuộc đô hộ dân Bách Việt.

Năm Canh Ngọ 111 TCN, giặc Hán Vũ đế Lưu Triệt sai Phục Ba tướng quân Lộ Bá Đức cùng phó tướng Dương Bộc đem hàng chục vạn quân tấn công ồ ạt xâm chiếm nước Nam Việt. Giặc Hán xóa tên nước Nam Việt lập thành Bộ Giao Chỉ, năm ất Hợi 106 TCN giặc Hán đổi gọi là Châu Giao Chỉ, chia làm 9 quận:

- Quận Giao Chỉ: tương đương Bắc Bộ Việt Nam, thượng Lào, nam Lưỡng Quảng gồm 12 huyện có 92.440 hộ, 746.237 khẩu.

- Quận Cửu Chân: tương đương Bắc Trung Bộ Việt Nam từ Thanh, Nghệ, Tĩnh đến Đèo Ngang và Trang Lào, gồm 7 huyện có 3.574 hộ và 165.013 khẩu.

- Quận Nhật Nam: tương đương Trang bộ Việt Nam từ Đèo Ngang đến Tượng Lâm (cực Nam Trang bộ) và hạ Lào, gồm 5 huyện có 15.460 hộ và 69.485 khẩu.

- Quận Nam Hải: tương đương bắc Lưỡng Quảng, Phúc Kiến,... nay thuộc Trung Quốc.

- Quận Thương Ngô: tương đương phần lớn bắc và trang Vân Nam nay thuộc Trang Quốc.

- Quận Uất Lâm: tương đương một phần bắc Quảng Tây nay thuộc Trang Quốc.

- Quận Hợp Phố: tương đương một phần đông nam Quảng Đông nay thuộc Trang Quốc.

- Quận Chu Nhai: tương đương đảo Hải Nam nay thuộc Trung Quốc.

- Quận Đạm Nhĩ: tương đương Lôi Châu nay thuộc Trung Quốc.

Thủ phủ bộ Giao Chỉ - châu Giao Chỉ đóng tại thành Luy Lâu ở trung tâm quận Giao Chỉ ( nay thuộc huỵện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, nước Việt Nam). Giặc Đông Hán chuyển trụ sở Châu Giao Chỉ từ thành Luy Lâu về thành Long Biên đứng đầu bộ (châu) Giao Chỉ là viên quan Thứ sử người Hán.

Đứng đầu cấp quận là viên Thái Thú và viên đô úy người Hán.

Đứng đầu cấp huyện lớn, trọng yếu là viên huyện lệnh người Hán, nếu huyện nhỏ thì người Việt được làm huyện trưởng.

Giặc Hán dùng chính sách dĩ di trị di (dùng người Việt cai trị người Việt ở những huyện nhỏ, hoặc không trọng yếu và dưới huyện là hương, dưới hương là kẻ chiềng chạ (làng bản) vẫn dùng các lạc hầu, lạc tướng, phụ đạo, bồ chính, bố tướng được giữ nguyên cho cai quản cấp địa phương cơ sở, hoặc cha truyền con nối, mua chuộc. Đây là thủ đoạn rất thâm độc của giặc phương Bắc làm nhụt ý chí người Việt chống giặc Hán. Để chúng chiếm đóng nước ta, đô hộ dân ta qua các triều đại phong kiến phương Bắc. Nhà Tây Hán đô hộ 132 năm từ năm Canh Ngọ 111 TCN đến năm Nhâm Ngọ 22 SCN. Nhà Đông Hán đô hộ nước ta 192 năm từ năm Quý Mùi 23 SCN đến năm Kỷ Hợi 219 SCN. Nhà Đông Ngô đô hộ 60 năm từ năm Canh Tí 220 SCN đến năm Canh Tí 280 SCN. Nhà Tấn đô hộ nước ta 140 năm từ năm Canh Tí 280 SCN đến năm Canh Thân 420 SCN. Nhà Tiền Tống (Nam Triều) đô hộ 59 năm từ năm Canh Thân 420 SCN đến năm Kỷ Mùi 479 SCN. Nhà Tề (Nam Triều) đô hộ 23 năm từ năm Kỷ Mùi 479 SCN đến năm Nhâm Ngọ 502 SCN. Nhà Lương (Nam Triều) đô hộ 55 năm từ năm Nhâm Ngọ 502 SCN đến năm Đinh Sửu 557 TCN. Nhà Trần (Nam Triều) đô hộ 32 năm từ năm Đinh Sửu 557 SCN đến năm Kỷ Dậu 589 5CN. Nhà Tùy đô hộ nước ta 15 năm từ năm Quý Hợi 603 SCN đến năm Mậu Dần 618 SCN. Nhà Đường đô hộ nước ta 286 năm từ năm Mậu Dần 618 SCN đến năm Giáp Tí 904 SCN.

Giặc phương Bắc dùng mọi thủ đoạn bóc lột tàn phá, cưóp đoạt dân Việt, tách nhập để thôn tính đất nước ta. Năm Quý Mùi 203 SCN giặc Đông Hán gọi bộ Giao Chỉ là Giao Châu và nhập 3 quận của nước Âu Lạc cũ vào Kinh Châu. Năm Giáp Thân 264 SCN giặc Đông Ngô tách khu vực các quận Nam Hải, uất Lâm, Tượng Quận (bắc Lưỡng Quảng, Trung Quốc) ra khỏi Giao Châu lập thành Quảng Châu. Chúng đồng hóa dân ở Quảng Châu không còn biết gốc Bách Việt nữa. Lúc đó Giao Châu bị thu hẹp lãnh thổ chỉ còn vùng đất nam Lưỡng Quảng (TQ), Bắc Bộ và Trung Bộ (Việt Nam), Lào. Giao Châu mới gồm các quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (nam Lưỡng Quảng TQ, Bắc Bộ, Trung Bộ Việt Nam và Lào).

Hợp Phố, Đạm Nhĩ, Chu Nhai (nam Quảng Đông, đảo Hải Nam TQ).

Năm Canh Tuất 470 SCN giặc Tiền Tống (Nam Triều) lại đem phần lớn quận Hợp Phố và Đạm Nhĩ, Chu Nhai (Hải Nam và Lôi Châu) ra khỏi Giao Châu để sát nhập vào Quảng Châu. Chúng đổi gọi cấp quận là châu, chia thành nhiều châu nhỏ trong châu lớn để cai trị sâu. Năm Đinh Mão 607 SCN giặc Tùy Dạng đế Dương Quảng lại đổi gọi châu nhỏ là quận. Giao Châu còn 7 quận:

Quận Giao Chỉ (Bắc Bộ Việt Nam, nam Lưỡng Quảng) phần nam Vân Nam, Trung Quốc và Thượng Lào có 9 huyện 60.056 hộ dân.

Quận Ninh Việt gồm Ngọc Châu - Hoàng Châu (tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam) và Khâm Châu, Liên Châu, Ung Châu nay thuộc Trung Quốc).

Quận Cửu Chân có 7 huyện 16.135 hộ dân Bắc Trung Bộ (Việt Nam) và Trung Lào.

Quận Nhật Nam có 8 huyện 9.915 hộ (Nam Trung Bộ Việt Nam) và Hạ Lào.

Quận Tỷ Cảnh có 4 huyện 1815 hộ

Quận Hoài Âm có 4 huyện 1100 hộ

Quận Chăm Pa có 4 huyện 1200 hộ

3 quận Tỷ Cảnh, Hoài Âm, Chăm Pa nay là Bình Trị, Thiên - Trung Trung Bộ Việt Nam và Trung Hạ Lào.

Giặc Tùy chuyển trụ sở đô hộ từ thành Long Biên về thành Tống Bình (Hà Nội).

Năm Tân Tị 621 SCN giặc Đường sát nhập Quảng Châu vào nội địa nước Đường. Giao Châu vẫn là ngoại địa, đổi gọi cấp quận là châu chia nhỏ châu để cai trị sâu hơn, giặc Đường đổi tên Giao Châu là An Nam, đặt cơ quan đô hộ An Nam là An Nam tổng quản phủ, đứng đầu là viên chức Tổng quản (người Hán - Đường). Năm Kỷ Mão 679 SCN lại đổi gọi chức tổng quản là Đô đốc. về sau gọi là chức Kinh lược sứ, rồi Tiết độ sứ nhằm tăng quyền lực đô hộ.

Phủ đô hộ An Nam cai quản 12 châu chính gồm Giao Châu, Phong Châu, Trường Châu, Ngọc Châu (Hoàng Châu) nay là Bắc Bộ Việt Nam và Mông Tự, Long Châu, Bằng Tường, Đông Hưng, Phòng Thành (giặc Mạc Đăng Dung, Đăng Doanh dâng cho nhà Minh) thuộc Trung Quốc. Thang Châu, Chi Châu, Vũ Nga Châu, Vũ An Châu (nay là nam Lưỡng Quảng, nam Vân Nam Trung Quốc). ái Châu, Phúc Lộc Châu, Diễn Châu, Hoan Châu (Bắc Trung Bộ Việt Nam) và 41 châu cơ mi ở các vùng ít người, sâu xa hẻo lánh (Việt Nam và Lào). Năm Đinh Dậu 757 SCN nước Đường rối loạn, khắp nơi khởi nghĩa, giặc Đường đổi An Nam đô hộ phủ thành trấn Nam đô hộ phủ. Năm Mậu Thân 768 SCN đổi lại An Nam đô hộ phủ. Năm Quý Mùi 863 SCN giặc Nam Chiếu (Vân Nam) đánh An Nam, giặc Đường thua bỏ chạy về đóng trụ sở ở Hải Môn. Năm Bính Tuất 866 SCN Cao Biền đánh giết tướng của Nam Chiếu là Đoàn Tư Bình, đuổi giặc Nam Chiếu, lại chuyển trụ sở phủ đô hộ An Nam về Tống Bình (Hà Nội). Giặc phương Bắc càng tăng nặng ách đô hộ, dân Việt càng nổi dậy chống Bắc thuộc.

Các triều đại phong kiến bá quyền phương Bắc từ Lưỡng Hán đến Ngô, Tấn, Tống, Te, Lương, Trần, Tùy, Đường đều bành trướng xâm lược áp đặt ách đô hộ cai trị hà khắc, đàn áp bóc lột dân Việt trong đó có tất cả người họ Đoàn....

Suốt 1015 năm (111 TCN - 904 SCN) giặc phương Bắc luôn thực hành mưu đồ chiếm đóng lâu dài, lấn cướp tước đoạt phần rất lớn hàng nhiều triệu km2 của người Việt, bắt dân ta làm nô lệ. Chúng xóa, phá hủy hoại các di tích lịch sử văn hóa vật thể, phi vật thể. Chúng khủng bố đàn áp dã man, bóc lột tàn bạo thậm tệ, chèn ép kìm hãm dân ta mọi lĩnh vực đời sống xã hội, tước đoạt các công trình văn hóa văn minh của nước ta. Sĩ Nhiếp cấm người Việt dùng chữ khoa đẩu bắt dùng chữ Hán để đồng hóa.

Người họ Đoàn cùng toàn dân Việt dũng cảm mưu trí sáng tạo mọi phương cách bí mật, công khai như chôn dấu vật quý linh khí, trống đồng, tháp đồng Văn Lang. Hoặc sáng tác ca dao, tục ngữ truyện kể, truyền thuyết, dân sử điền dã. Đấu tranh gìn giữ phong tục tập quán ăn trầu, nhuộm răng đen, dài tóc, trang phục kiểu quần áo... của người Việt. Hoặc chép vào kinh sách, văn cúng... hoặc gửi nơi chùa chiền... Đã góp phần quan trọng bảo tồn tiếng nói, chữ khoa đẩu sách Lạc thư, Hà Đồ…., nền văn hóa, văn minh của tổ tiên đã dày công gây dựng từ thời nguyên thủy, thời Hùng Vương truyền lại cho muôn đời hậu duệ con dân Việt, con dân họ Đoàn.

Người họ Đoàn kiên cường bất khuất cùng toàn dân Vi6ệt dũng cảm đấu tranh đã tham gia hàng nghìn cuộc nổi dậy khởi nghĩa lớn nhỏ chống giặc phương Bắc để bảo vệ truyền thống lịch sử văn hóa vẻ vang của dân tộc, giải phóng đời nô lệ, giải phóng dân tộc, tiến tới khôi phục chủ quyền quốc gia - phục quốc

Trải qua các triều đại từ Hùng vương, qua Đinh, Lý, Trần, Lê…tổ tiên họ Đoàn cũng như các thế hệ tiếp nối đã chuyển cư đến nhiều vùng của đất nước, đến nay có hàng mấy chục đời. Với nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử và thời gian quá lâu, gia phả qua nhiều đời sao chép, do đó có sự mất mát đáng kể.

2.HỌ ĐOÀN THỜI TIỀN LÝ (544-602) ĐẾN TRIỀU NGÔ

Năm 542, Lý Bí khởi nghĩa thành công, giành lại đuợc độc lập từ tay nhà Lương, xưng là Lý Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân với mong muốn đất nước mãi mãi trường tồn.

Năm 545, nhà Lương đem quân sang xâm lược nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế thua trận liên tục phải rút về động Khuất Lão. Tại đây ông bị bệnh chết. Triệu Quang Phục lên thay. Triệu Quang Phục lui quân về đầm Dạ Trạch thực hiện chiến tranh du kích. Cuối cùng năm 550, Triệu Quang Phục mới giành được thắng lợi, khôi phục nước Vạn Xuân, tự xưng là Triệu Việt Vương. Đến năm 571, Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử cướp ngôi.

Năm 602-603, Lý Phật Tử không chống được cuộc xâm lược của giặc, nước ta lại rơi vào tay nhà Tùy, rồi nhà Đường.

Ngọc phả thần tích đình làng Diên Mỗ - Đại Mỗ (huyện Từ Liêm, Hà Nội) thờ nhân thần Lý Bát lang tên húy là Lý Phổ Đỉnh là hoàng tử thứ 8 của vua hậu Lý Nam Đế - Lý Phật Tử và hoàng hậu Đoàn Thị Ngọc là con gái của Tướng văn Đoàn Tinh Thiều người họ Đoàn ở Mao Điền (Cẩm Giàng, Hải Dương).

Chính sử và sách “Đoàn tộc phả ký” của chi họ Đoàn ở chạ Mắt (Tu Trình, Thụy Anh, Thái Bình) do Tổ Đoàn Công Phúc Lãnh, đỗ khoa thi “Thiên hạ sỹ nhân” năm Bính Tuất (1166 SCN) tước Hải Hầu, làm quan Đại thần Hà đê thời vua Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, chép sách “Đoàn tộc phả ký” năm Nhâm Thân 1212 SCN cho biết; Đức ông Đoàn Tinh Thiều người họ Đoàn ở Mao Điền (Cẩm Giàng. Hải Dương) là nhà trí thức học rộng, tài cao, văn hay chữ đẹp, thông làu sử sách, đi thi ở kinh đô nhà Lương, đỗ cao. Nhưng không phải là người tầng lớp “sỹ tộc” chính quốc, nên chỉ được xếp hạng thấp bằng Hiếu Liêm, bắt làm việc sai vặt và gác cổng thành Quảng Dương xứ người. Đức ông Đoàn Tinh Thiều càng căm giận giặc Lương, càng đau lòng cảnh nước mất, dân nô, gia tộc và bản thân thậm nô lệ khổ nhục. Đoàn Tinh Thiều bỏ nhiệm về quê Mao Điền dạy học, bí mật tổ chức nhiều người họ Đoàn và dân tráng trong vùng lập đội nghĩa quân, kết giao với Đức ông Lý Bí (Lý Bôn) người huyện Thái Bình và các hào kiệt khắp nơi xây dựng lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa lớn chống giặc Lương.

Khởi nghĩa bùng nổ năm Nhâm Tuất 542 SCN do Đức ông Lý Bí đứng đầu cùng các Đoàn Tinh Thiều, Phạm Tu, Triệu Túc, Triệu Quang Phục, Lý Thiên Bảo, Lý Phật Tử, Lý Phục Man...khởi xướng phất cờ phát lệnh tấn công giặc Lương ở thành Long Biên phủ trị Châu Giao Chỉ.

Đầu năm Giáp Tí 544 SCN, đại thủ lĩnh Lý Bí đăng quang xưng ngôi Hoàng đế hiệu Lý Nam Việt Đế, sử sách còn chép là Lý Nam Đế, đặt hiệu là Thiên Đức, cải là Đại Đức, đặt quốc hiệu tên nước là Vạn Xuân.

Năm ất Sửu 545 SCN vua giặc Lương sai tên Dương Phiêu làm thứ sử, Trần Bá Tiên làm Tư mã đem quân xâm lược nước ta. Vua Lý Nam Đế, dẫn 3 vạn quân đánh chặn giặc Lương ở Chu Diên (Hưng Yên), quân giặc khá mạnh, quân ta rút về giữ thành Tô Lịch Giang. Giặc Lương đánh chiếm thành, quân vua Lý Nam Đế rút về Động Lão (Tân Xương, Phú Thọ), củng cổ và tăng cường lực lượng. Tháng 10 năm Bính Dần 546 SCN Lý Nam Đế dẫn 2 vạn quân đóng hồ Điển Triệt (Yên Lập, Lập Thạch, Vĩnh Phúc) rất hiểm trở, quân giặc Lương không dám đánh chỉ đóng vành ngoài chờ sở hở. Nhân mưa bão, nước sông lên to chảy như rót vào hồ, giặc Trần Bá Tiên lợi dụng nước lụt tấn công. Quân ta bị thất trận. Vua Lý Nam Đế dẫn quân số còn lại vượt sông Thao vào động Khuất Lão (Tam Nông, Phú Thọ), trao binh quyền cho tướng trẻ Triệu Quang Phục đủ tài đức, có năng lực bảo vệ độc lập chủ quyền nước Vạn Xuân. Anh trai ruột của vua Lý Nam Đế là tướng Lý Thiên Bảo cùng với tướng trẻ Lý Phật Tử chạy vào Cửu Chân đến biên giới giáp Ai Lao, nơi đầu nguồn sông Đào đắp thành xưng Vương - Đào Lang Vương. Năm ất Hợi 555 SCN, Lý Thiên Bảo qua đời, Lý Phật Tử kế tục.

Tướng Triệu Quang Phục dẫn quân về quê Chu Diên lập căn cứ ở đầm Dạ Trạch (Khoái Châu, Hưng Yên) kháng chiến chống giặc Lương, giết tướng Dương Sằn, giặc Lương đại bại. Quân ta chiếm lại thành Long Biên, giải phóng đất nước. Nghe tin vua Lý Nam Đế (Lý Bôn) đã ốm nặng băng hà, tướng Triệu Quang Phục làm lễ truy điệu và đăng quang ngôi vua hiệu Triệu Việt Vương. Lý Phật Tử nhân danh họ Lý, tranh chấp chia đôi sơn hà. Sau dụng kế thông gia con trai họ Lý lấy con gái họ Triệu, giả hòa lừa đánh úp, vua Triệu Việt Vương thất thủ chạy xuống biển tự tận. Năm Tân Sửu 581 SCN Dương Kiên lập nhà Tùy. Đầu năm Nhâm Tuất 602 SCN vua Tùy đòi vua hậu Lý Nam Đế là Lý Phật Tử sang chầu. Vua Hậu Lý Nam Đế chống lại và dụng kế hoãn binh để thêm lực lượng. Đầu năm Quý Hợi 603 SCN, vua giặc Tùy sau Lưu Phương làm Giao Châu đạo hành quân tổng quản và Kính Đức Lượng làm trưởng sự chỉ huy 27 quân doanh chừng hơn 10 vạn tên sang xâm lược nước Vạn Xuân. Vua hậu Lý Nam Đế - Lý Phật Tử đem 2000 quân sĩ chiến đấu dũng cảm, nhưng quân ít nên thất bại. Vua Lý Phật Tử bị giặc Tùy bắt giảisang Trường An. Nhiều tướng sĩ có nhiều con cháu nội ngoại của Tướng văn Đoàn Tinh Thiều đã anh dũng chiến đấu tiếp tục nhưng cũng bị giặc Tùy đàn áp đánh bại.

Đất nước ta lại bị giặc Tùy, giặc Đường (Trung Quốc) đô hộ thống trị.

Cụ Đoàn Danh Tích

Gia phả họ Trần làng An Mai có ghi: Vào đời vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028) khi cụ Tổ họ Trần về làng An Mai thì đã thấy có người họ Đoàn sinh sống, và theo thần phả đình làng An Mai (nay là thôn Thanh Mai, xã An Thanh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) do Tiến sỹ Nho học Nguyễn Viết Báo viết thì vào thời tiền Lý (544 - 602) đã có ông Đoàn Danh Tích về An Mai khai hoang, lập làng.

Cụ Tích, đã có công tổ chức khai hoang lập ra làng Bệ (nay là thôn An Bài), được 12 các họ khác trong làng ghi công trong gia phả, cụ còn là thày thuốc giỏi, nay ở thôn An Bài còn tượng và miếu thờ cụ, có sắc phong : “Lương y viện dược thạch tổ lưu truyền tại miếu thụy”

Năm 722, Mai Thúc Loan phất cờ khởi nghĩa. Thất bại.

Quý Mùi, 863, (Đường Hàm Thông, năm thứ 4). Mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh Ngọ, quân Nam Giao đánh chiếm phủ thành. Nam Giao hai lần chiếm Giao Châu, vừa giết vừa bắt gần 150.000 người. Khi rút lui còn lưu lại 20.000 quân, sai Tư Tấn giữ thành Giao Châu. Người Di Lão ở các khe động đều hàng phục cả. Vua Nam Giao cho thuộc hạ là Đoàn Tù Thiên làm tiết độ sứ phủ Giao Châu. Giáp Thân, 864, (Đường Hàm Thông, năm thứ 5). Mùa thu, tháng 7, vua Đường cho Cao Biền làm Đô hộ tổng quản kinh lược chiêu thảo sứ.

Năm 905, Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa giành được chính quyền. Nhà Đường công nhận chính quyền tự chủ của ông.

Năm 930, quân Nam Hán sang xâm lược nước ta. Nam Hán là một nước do Lưu Ẩn, tướng của nhà Hậu Lương giao cho cai quản thành lập vùng đất Hoa Nam (nhà Lương cướp ngôi nhà Đường vào năm 907). Người đứng đầu nước ta lúc đó là Khúc Thừa Mỹ không chống lại được, bị bắt sang Nam Hán. Các tướng lĩnh của họ Khúc tổ chức nhiều cuộc kháng chiến.

Sách “Đoàn tộc phả ký” do Tổ Đoàn Công Phúc Lãnh chép năm “Nhâm Thân 1212 SCN cho biết: Người họ Đoàn ở Sơn Lĩnh (Sơn Vi - Nghĩa Lĩnh) chuyển cư đến Kẻ Noi, Kẻ Cáo hương Lai Cáo từ năm Quý Hợi (603 SCN) đến năm Canh Thân (1020 SCN) tổ tiên họ Đoàn đã cư trú ở Lai Cáo (Từ Liêm, Hà Nội). Hương cổ Lai Cáo còn gọi Noi Cáo có địa bàn rất rộng gồm kẻ Noi, kẻ Cáo... do đổi tên địa danh nay là đất các xã Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, Cáo Đỉnh, Phú Diễn thuộc huyện Từ Liêm, nằm hai bờ sông Nhuệ đem phù sa đỏ tưới mát đồng ruộng. Lai Cáo ở gần nơi phát tích của họ Đoàn từ thời nguyên thủy đó là vùng Sơn Vi, Nghĩa Lĩnh, Phú Sơn gọi tắt là Sơn Lĩnh gần kinh đô Văn Lang (Phong Châu) thời các vua Hùng, gần cổ Loa thời An Dương Vương, thời họ Khúc, thời Ngô Vương Quyền, gần Luy Lâu và Long Biên thời Bắc thuộc, gần Mê Linh thời Trưng Vương, gần Diễn Mô, Tô Lịch thời Lý Nam Việt Đế, gần Hoa Lư thời Đinh, Tiền Lê Hương Lai Cáo ở sát đất thành Đại La, còn gọi Tống Bình (Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội). Đó là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước ta. Nơi địa linh hội tụ phong thủy tốt đẹp về địa lý nhân văn, truyền thống hàng nhiều nghìn năm lịch sử văn hóa rực rỡ, nền văn hiến huy hoàng.

Cụ Đoàn Liêm Duy, (đời1)

Húy Liêm Duy, tự Phúc Thái

Cụ là người làng Lai Cáo (nay thuộc Từ Liêm, Hà Nội). Nhưng tổ tiên của cụ phát tích từ vùng Sơn Lĩnh, sau này mới chuyển về Lai Cáo

Năm 905, cụ là Thủ lĩnh nghĩa quân, có công giúp phú hào Khúc Thừa Dụ, người làng Phúc Bồ (Ninh Giang, Hải Dương) lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, tấn công thành Tống Bình (Hà Nội) đánh đuổi giặc nhà Đường (Trung Quốc), khôi phục quyền tự chủ của nước nhà, mở nền độc lập vào năm Bính Dần (906), chấm dứt 1016 năm Bắc thuộc (111 TCN – 906 SCN).

Năm 930, quân Nam Hán sang xâm lược nước ta. Nam Hán là một nước do Lưu Ẩn, tướng của nhà Hậu Lương giao cho cai quản thành lập vùng đất Hoa Nam (nhà Lương cướp ngôi nhà Đường vào năm 907). Người đứng đầu nước ta lúc đó là Khúc Thừa Mỹ không chống lại được, bị bắt sang Nam Hán. Các tướng lĩnh của họ Khúc tổ chức nhiều cuộc kháng chiến

3.HỌ ĐOÀN DƯỚI TRIỀU NGÔ (938-965)

Năm 931, cuộc kháng chiến do Dương Đình Nghệ lãnh đạo thành công. Ông được tôn làm Tiết Độ Sứ.

Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ cướp quyền lãnh đạo. Ngô Quyền là con rể Dương Đình Nghệ khởi binh trừng phạt. Kiều Công Tiễn cầu cứu nước Nam Hán.

Năm 938, quân Nam Hán do thái tử Hoằng Thao kéo sang nước ta theo đường thủy định phối hợp với Kiều Công Tiễn để đánh bại Ngô Quyền. Nhưng Hoằng Thao chưa đến nơi thì Ngô Quyền đã diệt được Kiều Công Tiễn và bố trí mai phục ở cửa sông Bạch Đằng. Khi quân Nam Hán lọt vào trận địa liền bị quân của Ngô Quyền đánh cho tan tác. Hoằng Thao chết trận, quân Nam Hán tháo chạy về nước. Vua Nam Hán bỏ mộng xâm lược.

Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, dựng kinh đô tại Cổ Loa. Mở ra thời kỳ độc lập tự chủ hoàn toàn cho nước ta sau hơn 1.000 năm bị bọn phong kiến phương Bắc đô hộ.

Năm 944, Ngô Quyền chết. Tình hình đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn do sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái tướng lĩnh và con của Ngô Quyền (Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn).

Năm 965, vị vua cuối cùng của triều Ngô là Ngô Xương Văn chết, các tướng lĩnh địa phương thi nhau cát cứ. Đất nước bị chia cắt thành 12 sứ quân.

Tổ Đoàn Liêm Duy tự Phúc Thái với phu nhân Lê thị sinh ra Đoàn Duy lượng vào mùa xuân năm Bính Dần (906)

Cụ Đoàn Huy Lượng: (đời 2),

Húy Duy Thượng, tự Phúc Cao

Cụ là Tướng của Ngô Quyền tham gia đánh giặc Nam Hán năm 938 trên sông Bạch Đằng, góp phần giữ vững nền độc lập của đất nước, chấm dứt trên ngàn năm Bắc thuộc, hiện có đền thờ ở Nghi Đoan – Hải Phòng và ở xã Đoàn Đào - phù Cừ - Hưng Yên.

Đại tướng Đoàn Liêm Duy là khai quốc công thần mở nền độc lập tự chủ Việt Nam. Tổ Đoàn Liêm Duy tự Phúc Thái với phu nhân Lê thị sinh ra Đoàn Duy Thượng vào mùa xuân năm Bính Dần (906). Tổ Đoàn Duy Thượng tự Phúc Cao, thụy Văn Lượng, văn vố kiêm toàn có tài thao lược, là đại tướng có công giúp Ngô Vương Quyền người ấp Đường Lâm (Cam Lâm), Hà Tây đánh tan giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm Mậu Tuất (938 SCN) lập triều Ngô đóng đô ở Cổ Loa góp phần giữ vững độc lập non trẻ của nước ta. Ngài là khai quốc công thần triều Ngô Vương. Ngài được vua Ngô Vương Quyền tặng bốn chữ: “Hữu công hộ quốc”, được thờ ở đình Đoàn Đào, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, còn được thờ tại các đình miếu Cát Khê, Lương Xâm, Dư Hàng, Miếu Hai Xã (An Hải, Hải Phòng), Đông An (Ngô Quyền, Hải Phòng), Do Nghi (Thủy Nguyên, Hải Phòng), ở Hà Tây và nhiều nơi thờ hợp tự với Ngô Vương thiên tử.

Ngọc phả thần tích thành hoàng làng Đoàn Đào huyện Phù Cừ tỉnh Hưng Yên chép: sau khi đánh tan quân Nam Hán, Ngô Vương Quyền hội quân mừng chiến thắng tại địa điểm nay còn di tích đền Vương thuộc làng Vương, (xã Ngô Quyền, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên). Tướng Đoàn Duy Thượng bị thương nhưng vẫn ôm đầu phi ngựa về hội quân, khi Ngài đến địa phận làng thuộc huyện Phù Hoa (Phù Cừ) gặp cụ hái rau muống, tướng Đoàn Duy Thượng bèn hỏi: “Người mất đầu có sống được không?”. Bà cụ trả lời “Rau mất đầu thì mọc đầu khác, người mất đầu thì hóa”. Nghe vậy Ngài liền buông tay, đầu rơi và hóa ngay ở đó, nhà vua truyền lập đền thờ, quanh năm tế lễ theo nghi thức quốc gia. Vì thế làng đó được đặt tên là Đoàn Đầu, dân kiêng chữ đầu gọi chệch là Đoàn Đào.

4.HỌ ĐOÀN VIỆT NAM THỜI KỲ NHÀ ĐINH VÀ SỰ THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ - ĐINH TIÊN HOÀNG (968 – 979), Niên hiệu Thái Bình (970 – 979)

Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất được 12 sứ quân. Do ông đánh đâu thắng đấy nên đuợc dân chúng tôn là Vạn Thắng Vương. Năm 968, Vạn Thắng Vương lên ngôi Hoàng Đế xưng là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, kinh đô đóng tại Hoa Lư.

Năm 979, Đỗ Thích ám hại Đinh Tiên Hoàng cùng con là Đinh Liễn. Triều thần bắt giết Đỗ Thích, lập Đinh Toàn, 5 tuổi, lên làm vua. Thái hậu Dương Vân Nga nhiếp chính, quyền phụ chính được giao cho Lê Hoàn. Lúc này, nhà Tống thấy tình hình nước ta rối ren, vua còn nhỏ tuổi như vậy thì cho đó là cơ hội trời cho để thôn tính bèn giao Hồ Nhân Bảo đưa quân xâm lược. Được tin, Thái hậu Dương Vân Nga cùng triều thần nhất trí nhường ngôi báu cho Lê Hoàn để ông có được tòan quyền mà dốc sức chống Tống.

Cụ Đoàn Văn Lan, (đời 3),

Húy Văn Lan. tự Phúc Vạn

Tổ Đoàn Duy Thượng tự Phúc Cao là con của Tổ Đoàn Liêm Duy, kẻ Noi, kẻ Cáo, hương Lai Cáo (Từ Liêm, Hà Nội) với phu nhân Ngô thị sinh ra Đoàn Văn Lan.

Tổ Đoàn Văn Lan tự Phúc Vạn làm đại tướng sứ quân Bố Hải, giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, xây dựng quốc gia Đại cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình). Ngài tổ Đoàn Văn Lan là khai quốc công thần triều nhà Đinh, có đền thờ ở Bố Hải (Thái Bình).

Cụ là Tướng của Minh công Trần Lãm, sau giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, hiện có đền thờ ở Lạc Đạo – Thái Bình.

5. HỌ ĐOÀN VIỆT NAM THỜI KỲ NHÀ TIỀN LÊ

LÊ ĐẠI HÀNH ( 980 – 1005)

Niên hiệu: -Thiên Phúc (980-988)

-Hưng Thống (989-993)

-Ứng thiên (994-1005)

Năm 981, quân Tống ồ ạt tấn công Đại Cồ Việt theo cả hai đường thủy, bộ. Nhờ chuẩn bị tốt, và tài mưu lược, Lê Hoàn đánh bại quân Tống, giữ yên bờ cõi.

Năm 1005, Lê Hoàn chết, các con của ông tranh nhau giành ngôi báu. Lê Long Đĩnh chiến thắng lên làm vua (Lê Ngọa Triều). Ông vua này rất thích bạo lực, sa đọa và trụy lạc nên không đựơc lòng dân chúng.

Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết. Được nhiều người phò tá, Lý Công Uẩn xưng vua (Lý Thái Tổ) lập ra triều đại nhà Lý kéo dài 216 năm với 9 đời vua (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông và Lý Chiêu Hoàng).

- Cụ Đoàn Văn Liễn , (đời 4),

Húy Văn Liễn , tự Phúc Trung (con cụ Lan):

Tổ Đoàn Văn Lan với phu nhân Đinh thị sinh ra Đoàn Văn Liễn và Đoàn Văn Liễm.

Họ Đoàn chiêu dân trị thủy, khai hoang mở hương ấp kẻ Noi, kẻ Cáo hương Lai Cáo (Từ Liêm, Hà Nội) đã xây dựng Lai Cáo thành hương ấp thịnh giàu, mở trường khuyến học. Họ Đoàn có sản nghiệp lớn, nhiều ruộng đất vua ban. Năm Bính Dần (1266) niên hiệu Thiệu Long thứ 9, Trần Thánh Tông đã lấy 250 mẫu đất của họ Đoàn ở Lai Cáo cấp cho công chúa Trần Khắc Hãn tục gọi chúa Móc làm điền trang. Nay ở cổ Nhuế (Từ Liêm, Hà Nội) còn di tích xóm Viên Thôn có miếu nhỏ gọi là “Viên Thôn linh từ” và chùa Thanh Quang, cánh đồng Móc 81 mẫu. Năm Canh Thìn (1400 SCN) niên hiệu Thánh Nguyên nhà Hồ thi hành chính sách hạn điền của Hồ Quý Ly, chỉ để lại cho hậu duệ của chúa Móc còn 81 mẫu. Dân địa phương vẫn gọi là Đồng Móc.

Cụ là Tướng của Minh công Trần Lãm, sau giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, hiện có đền thờ ở Lạc Đạo – Thái Bình. Cụ làm tướng nhà Đinh, sau giúp Lê Hoàn đánh giặc Tống được ban 10 chữ. “Bình tống huân danh tại, phù Lê sử sách thùy”

Tổ Đoàn Văn Liễn tự Phúc Trung người kẻ Noi, kẻ Cáo hương Lai Cáo là khai quốc công thần của nhà Tiền Lê và triều nhà Lý. Tổ là đại tướng giúp vua Lê Đại Hành đánh thắng giặc Tống trên sông Bạch Đằng năm Tân Tị (981 SCN), được vua Lê Đại Hành ban tặng mười chữ: “Bình Tống huân danh tại, Phù Lê sử sách tồn” đã ghi câu đối họ Đoàn Tu Trình (Thụy Hồng, Thái Thụy, Thái Bình) và chi họ Đoàn ở Đoàn Xá (Đoạn Xá 6, phường Đông Hải I, quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

Năm Kỷ Dậu (1009), Đại tướng Đoàn Văn Liễn làm quan triều Tiền Lê đứng về phe ủng hộ Lý Công Uấn lên ngôi vua lập vương triều Lý. Tổ có công được vua Lý Thái Tổ cấp thưởng lộc điền ở Tô Xuyên, nay thuộc xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Niên hiệu Thuận Thiên thứ 11, năm Canh Thân (1020), Tổ Đoàn Văn Liễn đem một số con cháu từ Kẻ Noi, Kẻ Cáo, hương Lai Cáo đến Tô Xuyên chiêu dân trị thuỷ đắp đê, đào kênh làm cống, khai khẩn đất lộc điền, lập ấp thang mộc, phát triển dòng họ, mở trường khuyến học, xây dựng quê hương mới thành làng ấp trù phú thịnh giàu. Nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Làng Tô Xuyên ở hữu ngạn Hóa Giang còn gọi là sông Hóa, hoặc gọi là sông Sinh, một chi lưu của sông Luộc, địa giới tự nhiên phân cách giữa Thái Bình và Hải Phòng. Nơi đây còn vang vọng lời thề sông Hoá trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông hồi cuối thế kỷ 13 năm Mậu Tí(1288) của Đức Quốc Công Trần Hưng Đạo: "Trận này không phá được giặc Nguyên Mông thì không về sông này nữa". Sông Hoá Giang hợp cửa với sông Thái Bình (còn gọi là sông Hàn) đổ nước ra biển Đông ở cửa Đài Bàng (chớ nhầm với cửa Đại Bàng sông Văn úc) còn gọi là gảnh Ba Ra rộng mênh mông, nhưng do phù sa lắng đọng nên khi nước kém sát thì cửa gảnh chỉ còn là con lạch nhỏ, có thể lội qua được. Tô Xuyên có vùng đất phù sa bồi màu mỡ phì nhiêu rất tốt cho việc sản xuất nông nghiệp, cấy lúa, trồng cây ăn quả, hoa màu, chăn nuôi gia súc gia cầm, thả cá có sản lượng cao. Tô Xuyên là căn cứ hậu cần cung cấp quân lương cho lực lượng họ Đoàn ở Hồng Châu phù Lý chống Trần suốt 33 năm từ năm ất Sửu (1205) đến năm Mậu Tuất (1238). Sau khi họ Trần lấy ngôi vua nhà Lý, năm Bính Dần (1266) niên hiệu Thiệu Long thứ 9, Trần Thánh Tông đã lấy đất của họ Đoàn ở Tô Xuyên cấp cho phò mã Hưng Mỹ hầu họ Vũ làm điền trang. Năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly ngôi nhà Trần thì Tô Xuyên là nơi đồn trú chống nhà Hồ do hậu duệ của Hưng Mỹ hầu là Vũ Uy cùng Phùng Thế Kỳ và Đoàn Phúc Lanh lãnh đạo chống nhà Hồ. Sau theo Bình Định Vương Lê Lợi chống giặc Minh. Con của Đoàn Phúc Lanh và Đoàn Công Uẩn 20 tuổi rất dũng cảm mưu trí tiêu diệt nhiều giặc minh.

Cụ làm tướng nhà Đinh, sau giúp Lê Hoàn đánh giặc Tống được ban 10 chữ.

“Bình tống huân danh tại, phù Lê sử sách thùy”

Năm 1009 cụ Liễn đứng về phe ủng hộ Lý Công Uẩn lên ngôi vua, cụ được Lý Thái Tổ cấp lộc điền ở Tô Xuyên và đến năm 1220 cụ đem con cháu đến đây khai khẩn lập ấp thang mộc.

Tổ Đoàn Văn Liễn sinh quán Kẻ Noi, Kẻ Cáo, hương Lai Cáo (Từ Liêm, Hà Nội), trú quán làng Tô Xuyên (An Mỹ, Quỳnh Phụ, Thái Bình) với phu nhân Lý Thị sinh ra Đoàn Văn Khâm, Đoàn Duy Hải.

Phả tộc họ Đoàn ghi:

Tiền cư Lai Cáo,

Hậu đáo Tô Xuyên,

Huynh chi Hồng Châu,

Xưng vương Đông Hải,

Ốc tại Tu Trình,

Ký cư Quảng Nạp, Thuận Thiên thập nhất,

Đáo đất Tô Xuyên,

Chính Long bát niên,

Tu Trình cư ngụ,

Thiệu phong thập tứ,

Một cho họ sang,

Mở đất khai hoang,

Lập ra xóm làng,

Gọi tên Quảng Nạp,

Người đông đất chật,

Mộ chỉ họ ra,

nhập cư làng Cờ,

Nguyên niên Hồng Thuận

Và câu đối ở từ đường họ Đoàn:

“ Tiền cư Lai Cáo, hậu đáo Tô Xuyên, ký sử Hồng Châu, lưu cổ tích.

Ốc tại Tu Trình, an cư Đoạn Xá, văn như kế thế, cái tiền cơ.”

Nghĩa là:

Họ Đoàn trước ở Lai Cáo, sau đến Tô Xuyên, công huân sử sách ghi tại đất Hồng Châu, thần tích còn ghi ở các đình đền.

Gốc nhà đất ở Tu Trình, an cư tại Đoạn Xá, đời đời dòng dõi giữ vững gia thế, mở mang cơ nghiệp tổ tiên.

Sách ”Đoàn tộc đại tôn phả ký” do Cử nhân Đoàn Huệ Hải – Tri phủ huyện Vĩnh Khang, cùng con là Cử nhân Đoàn Viết Yến làm Giám sinh chỉ thụ Quốc Tử Giám, chép năm Quý Mão (1483) – niên hiệu Hồng Đức thứ 14; Cuốn “Đoàn tộc phả ký” do Tiến sĩ Đoàn Phúc Luận làm quan Tổng tuần sát tam phủ, chép năm Quý Sửu (1613) – niên hiệu Hoằng Định thứ 13; Cử nhân Đoàn Duy Ca – Nho sĩ Cần Vương, chép phả năm Quý Mùi (1883) – niên hiệu Hiệp Hòa, phần tiền biên phả hệ đều ghi được 10 đời thứ tự từ trên xuống.

Chính Long bát niên là niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 8, đời vua Lý Anh Tông, năm Canh Dần (1170). Tổ tiên họ Đoàn đến cư ngụ tại Tu Trình, xưa kia có tên là Trại Mát (Thụy Hồng, Thái Thụy, Thái Bình).

Thiệu Phong thập tứ là niên hiệu Thiệu Phong thứ 14 đời Trần Dụ Tông, năm Tân Mão (1351). Một chi họ Đoàn đến khai hoang lập làng tại Quảng Nạp, hậu duệ tổ Đoàn Công Phúc Lãnh có Đoàn Công Uẩn thủ lĩnh nghĩa quân Bình Định Vương Lê Lợi đánh giặc Minh (Trung Quốc), được Lê Thái Tổ tặng danh hiệu: “Đoàn Mãnh tướng danh huân” cấp sắc phong thần, chiếu chỉ làng Quảng Nạp thờ Thành hoàng. Đại lieu ban Đoàn Thai và thủ lĩnh nghĩa quân Đoàn Đức có công đánh giặc Nguyên-Mông thế kỷ thứ 13

Hồng Thuận nguyên niên là niên hiệu Hồng Thuận thứ nhất, đời Lê Tương Dực, năm Canh Ngọ (1510). Một chi họ Đoàn đến làng Cờ (Phan Xá, Tứ Kỳ, Hải Dương), nhiều chi họ ở Tứ Lộc, Hải Dương là hậu duệ của tổ Đoàn Công Phúc Lãnh; Có một số vị đỗ Tiến sĩ, Cử Nhân được bổ nhiệm làm quan, làm tướng, Quận công thời Hậu Lê, thời Nguyễn

6. HỌ ĐOÀN DƯỚI TRIỀU LÝ (1010-1225)

Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết. Được nhiều người phò tá, Lý Công Uẩn xưng vua (Lý Thái Tổ) lập ra triều đại nhà Lý kéo dài 216 năm với 9 đời vua (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông và Lý Chiêu Hoàng).

Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Sau gọi là thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay).

Năm 1072, Lý Nhân Tông lên ngôi khi mới 6 tuổi. Nhà Tống nhân cơ hội chuẩn bị lương thảo có ý xâm lược nước ta. Vì vua còn nhỏ nên quan phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt nắm trọn binh quyền.

Năm 1075, Lý Thường Kiệt chủ trương “đánh phủ đầu” quân Tống để tự vệ trước bèn tập trung 10 vạn quân thủy bộ chia làm hai đường đánh sang đất Tống với mục đích phá hủy các kho dữ trữ lương thảo hậu cần nằm ở Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu mà nhà Tống đang chuẩn bị để phục vụ cho cuộc xâm lược nước ta. Quân Thủy đánh Khâm Châu, quân bộ đánh Ung Châu. Bị bất ngờ nên quân Tống thua liên tiếp. Nửa tháng sau chính quyền Tống ở Trung ương mới biết tin. Vua Tống lập tức chuẩn bị đại binh dự định đánh thẳng vào nước ta để giải vây.

Năm 1076, tháng 3, sau sáu tháng tiến công, quân ta đã đạt được mục đích và rút về nước cũng là đề phòng bị đánh úp. Khi đó, đại binh quân Tống còn chưa kịp lên đường.

Tháng 8 năm 1076 , sau khi củng cố lực lượng, nhà Tống đem 30 vạn quân chia hai đường thủy, bộ bắt đầu xâm lược nước ta và cũng là để trả thù cho sự kiện ở trên. Lý Thường Kiệt chọn địa điểm quyết chiến tại sông Như Nguyệt, xây dựng phòng tuyến phòng thủ tại bờ Nam chờ giặc.

Năm 1077, tháng 1, quân Tống đến phòng tuyến Như Nguyệt và bị chặn đứng ở đó. Thế trận giằng co kéo dài, binh Tống ngày một hao tổn do thiếu lương thực vũ khí vì bị quân ta đánh du kích. Cuối cùng quân Tống phải chấp nhận giảng hòa, rút quân về. Triều Lý bắt tay xây dựng đất nước và bước vào thời kỳ hưng thịnh.

Từ 1138, triều Lý có dấu hiệu suy yếu do các vua đều lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, bị chết yếu,… quyền hành rơi vào tay ngoại tộc vốn lắm kẻ gian tham, bất tài, hại dân. Vào cuối triều nhà Lý, các quý tộc quan lại họ Trần nổi lên là một thế lực lớn có công giúp nhà Lý bình định thiên hạ.

- Đoàn Văn Khâm (đời 5-1),

Húy Văn Khâm, tự Phúc Văn, nguyên quán làng Lai Cáo, sinh quán tại Tô Xuyên.(chữ Hán: 段文欽; 1173 - 1210),

Tổ Đoàn Văn Liễn sinh quán Kẻ Noi, Kẻ Cáo, hương Lai Cáo (Từ Liêm, Hà Nội), trú quán làng Tô Xuyên (An Mỹ, Quỳnh Phụ, Thái Bình) với phu nhân Lý Thị sinh ra Đoàn Văn Khâm, Đoàn Duy Hải.

Tổ Đoàn Duy Hải ở lại Tô Xuyên quản lý lộc điền của cha nhưng không có con trai nên con thứ hai của Tổ Đoàn Văn Khâm là Đoàn Thiện Nguyên thừa tự. Tổ Đoàn Văn Khâm tự Phúc Vấn, sinh ngày 12 tháng 9 năm Tân Mão (1051 SCN), sinh quán làng Tô Xuyên, trú quán làng Cổ Phục (nay là thôn Cổ Phục, xã Kim Hưng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương), nguyên quán Kẻ Noi, Kẻ Cáo, hương Lai Cáo;

Niên hiệu Thái Ninh thứ tư, Tổ Đoàn Văn Khâm dự thi khai khoa Minh kinh bác học và nho học Tam trường năm ất Mão (1075) đỗ đệ nhất giáp đệ nhị danh (bảng nhãn), xếp thứ hai sau trạng nguyên Lê Văn Thịnh, đứng hàng tam khôi. Tổ Đoàn Văn Khâm làm quan đại thần đến chức Thượng thư Bộ Công, kiêm Giáo thụ Tư nghiệp Quốc tử giám (trường đại học đầu tiên của nước ta) giảng bài cho vua Lý Nhân Tông, đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Tổ Đoàn Văn Khâm có tài kinh bang tế thế, văn võ kiêm toàn, thơ văn xuất chúng, là một nhà thơ xuất sắc thời vương triều Lý, có trước tác để lại cho đời sau. Nay mới sưu tầm được ba bài thơ theo thể thơ Đường luật chép trong các sách “Hoàng Việt thi tuyển” của quan Bồi tụng Bùi Huy Bích thế kỷ 18, sách "Văn học đời Lý" NXB Mai Lĩnh 1942 và “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam- Nhà xuất bản văn học, năm 1976”; sách Hoàng Việt Thi Lục A.1262; sách Thư Mục Đề Yếu; sách cổ kim Phật Tích Lục; sách Hoàng Việt Tùng Vịnh; sách Tọa Hoa Trích Diễm (tập thượng), sách Đức thánh Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng - NXB Hải Phòng năm 2002 ...

Nhất giáp nhị danh quang thanh sử

Thượng thư công bộ hiển lý triều

Nghĩa:

Bảng nhãn khoa đẩu lược thảo ngời sử sách

Thượng thư Bộ công Huân nghiệp rạng Lý triều

Tặng Quảng trị Thiền sư

Trụ tích nguy phong bãi lục trần (2),

Mặc cư huyễn mộng vấn phù vân,

Ân cần vô kế tham Trừng, Thập (3),

Sách bạn trâm anh tại lộ quần (4).

(Hoàng Việt thi tuyển - Bồi tụng Bùi Huy Bích chép)

Dịch nghĩa:

Tặng Quảng trị Thiền sư

Chống gậy tầm xích, giũ sạch bụi trần, lên núi cao tu hành,

ở im lặng trong cảnh mộng huyễn, hỏi chuyện mây nói trên không.

Vẫn muốn ân cần tới học với bậc thiền sư có đạo cao như các vị

sư Trừng, sư Thập mà không được.

Vì đã trót bị cái trâm và dải mũ buộc trong hàng ngũ chim cò

Dịch thơ:

Chống gậy non cao giũ bụi đời,

Nằm trong mộng huyễn ngắm mây trôi.

Ân cần không cách theo Trừng, Thập

Trót vướng bầy cò lớp mũ đai.

Ngô Tất Tố dịch

(Văn học đời Lý - NXB Mai Lĩnh, 1942)

Chú thích:

Quảng Trí thiền sư vốn họ Nhan, quê ở Thăng Long, mất khoảng niên hiệu Quảng Hữu (1085-1092) đời vua Lý Nhân Tông.

Lục Trần cũng gọi là Lục Tặc, 6 loại giặc theo danh từ giáo lý nhà Phật, chỉ 6 việc phải tránh: sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, cảm xúc và pháp thuật.

Trừng, Thập là hai vị cao tăng : Phật Đồ Trừng người ấn Độ và Cưu Ma La Thập người Tây Vực, cùng sang Trung Quốc đời Hậu Tấn (936-947 SCN), được tôn làm quốc sư. Ngang với thời triều Ngô Vưong Quyền nước ta.

(4) Lộ quần: bầy cò, chỉ hàng ngũ quan lại. Loài cò thường bay có thứ tự trước sau. Thời xưa các quan văn võ khi vào chầu vua, xếp hàng theo phẩm trật giống như bầy cò ba.

Văn Quảng Trí Thiền sư

Lâm loan bạch thủ dộn kinh thành,

Phất tụ cao sơn viễn cánh hinh,

Kỷ nguyện tĩnh cân xu trượng tịch,

Hốt văn di lý yếm thiền quynh.

Trai đình u điếu không đề nguyệt,

Mộ tháp thuỳ nhân vị tác minh.

Đạo lữ bất tu thương vĩnh biệt,

Viện tiền sơn thuỷ thị chân hình.

(Hoàng Việt thi tuyển - Bùi Huy Bích chép)

Dịch nghĩa :

Viếng Thiền Sư Quảng Trí

Xa lánh kinh thành, vào ở rừng núi cho đến bạc đầu.

Phất tay áo trên núi cao, càng xa lại càng ngát mùi hương.

Đã bao lần muốn đội khăn tu hành đến hầu nơi truyền đạo.

Bỗng nghe nhà sư qua đời, chỉ còn lại chiếc gậy trong phòng tu khép kín.

ở sân nhà trai, buồn nghe tiếng chim khuya âm thầm kêu dưới bóng trăng.

Ai là người đề cho bài văn bia ở cái tháp trên mộ ?

Các bạn tu hành cũng đừng nên đau thương về sự vĩnh biệt.

Kìa núi sông trước chùa, đó là chân hình nhà sư

Truy điệu Chân Không thiền sư (1)

Hạnh cao triều dã chấn thanh phong.

Tích trụ như vân mộ tập long.

Nhân vũ hốt kinh băng tuệ đống.

Đạo lâm trường thán yển trinh tùng.

Phần oanh bích thảo thiêm tân tháp.

Thuỷ trám thanh sơn nhận cựu dung.

Tịch tịch thiền quan thuỳ cánh khấu?

Kinh qua sầu thính mộ thiên chung.

(Hoàng Việt thi tuyên - Bùi Huy Bích chép)

Dịch nghĩa :

Truy điệu Chân Không thiền sư (1)

Đức hạnh cao nổi tiếng từ triều đình đến thôn quê.

Học trò quẩy gậy đến học đông như mây buổi chiều quấn lấy rồng.

Chợt nghe tin nền nhân gẫy mất cây cột trí tuệ

Những bùi ngùi cho rừng thiền đô mất cây thông trinh chính.

Cỏ xanh quấn quanh mộ lại có thêm cái tháp mới.

Núi biếc dưới làn nước trong, dường như phản ánh hình dung người cũ.

Cổng chùa vắng vẻ, còn ai gõ cửa?

Qua đây bi sầu nghe tiếng chuông chiều.

Dịch thơ:

Triều, quê nô nức, thói cao bay.

Gậy chống như rồng quấn bóng mây (*).

Phút chốc cửa từ cây cột đổ.

Bùi ngùi rừng đạo gốc thông lay.

Mồ quanh cỏ biếc thêm tầng tháp

Nước chiếu non xanh nhận nét mây.

Quạnh quẽ am mây, ai gõ cửa?

Chuông chiều nghe điểm dạ khôn khuây.

Ngô Tất Tố dịch.

( Văn học đời Lý - NXB Mai Lĩnh, 1942)

Chú thích :

(1) Chân Không thiền sư thế danh là Vương Hải Thiềm, tu ở chùa Từ Sơn, đời Lý Nhân Tông, được vời vào triều giảng kinh Pháp Hoa.

(*) Có sách chép 2 câu đầu bản dịch là :

Thanh cao triều dã, tiếng xa bay

Quẩy gậy như rồng bọc những mây.

Thượng thư Đoàn Văn Khâm có tư tưởng Phật học mộ đạo Phật, hay giao du với các khách Thiền lâm nổi tiếng như các cao tăng Quảng Trí thiền sư, Chân Không thiền sư. Thời thường Tổ Đoàn Văn Khâm mặc áo nâu quấn khăn vải. Tổ Đoàn Văn Khâm có công tham gia chiến dịch “chặn trước” của Thái uý Lý Thường Kiệt (tên huý là Ngô Tuấn) tiến đánh căn cứ xâm lược của nhà Tống ở Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu (Trung Quốc), xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông cầu), góp phần đánh thắng giặc Tống năm Bính Thìn (1076) bảo vệ vững chắc nền độc lập quốc gia Đại Việt. Tổ Đoàn Văn Khâm có công xây dựng Văn miếu Quốc tử giám năm Bính Thìn (1076) và nhiều năm dạy học, làm tư nghiệp Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của nước ta đã đào tạo nhiều nhân tài giữ trọng trách của đất nước. Tổ còn xây dựng nhiều công trình chùa tháp hoàng thành, các công trình kiến trúc văn hoá nghệ thuật đã trở thành di sản quốc gia còn mãi đến nay và muôn đời mai sau. Tổ Đoàn Văn Khâm được nhà vua cấp thưởng lộc điền ở làng cổ phục (nay là thôn cổ phục, xã Kim Hưng, huyện Kim Thành, Hải Dương). Tổ đã tổ chức chiêu dân trị thuỷ, khai khẩn đất lộc điền, mở hương ấp lập làng Cổ Phục. Làng Cổ Phục nằm trong vùng đất phù sa quý, được bồi đắp nên bởi sông Văn úc (Uất Giang), sông Lạch Tray, sông Nam Triệu (sông Cấm) tạo thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi thả cá, trồng cây có hiệu quả cao. Tổ còn mở trường khuyến học, xây dựng Cổ Phục thành hương ấp thịnh giàu, nhân dân no ấm hạnh phúc.

Cuối thế kỷ 20 đã có người nước Hoa Kỳ làm luận văn tiến sĩ về thơ văn Đoàn Văn Khâm.

Cụ cũng là người có công xây dựng nhiều chùa tháp, công trình kiến trúc nghệ thuật văn hóa sau này trở thành di sản quốc gia. Cụ được cấp lộc điền ở làng Cổ Phục (nay thuộc Kim Thành, Hải Dương)

Năm 1210, cụ Đoàn Văn Khâm mất khi mới 37 tuổi. Giỗ ngày 8 tháng Giêng hàng năm.

Cụ có người em ruột là Đoàn Duy Hải (không có con), định cư tại Tô Xuyên)

Cụ có 2 người con là: Đoàn Tướng công, húy Thiệu Hồng và Đoàn Thiện Nguyên (sau về định cư lại Tô Xuyên)

Tổ Đoàn Văn Khâm với phu nhân Lý Thị sinh ra Đoàn Thiện Hồng và Đoàn Thiện Nguyên tại làng Cổ Phục. Tổ Đoàn Văn Khâm tạ thế ngày 9 tháng Giêng năm Giáp Dần 1134 thọ 83 tuổi, cúng giỗ ngày 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm.

Đoàn Nghĩa Sơn (? - ?) ,

Đời vua Lý Thái Tông (1028-1054)

Cụ Sơn người trang Tây Liễu, tổng Hồng Lục, huyện Trường Tân, quận Hạ Hồng, trấn Dương Tuyền, Không rõ năm sinh, năm mất của cụ. Cụ có người con trai là Đoàn Nghi Ảm, có tài văn võ song toàn, được vua Lý Thánh Tông – Long Thụy thứ 3 (1056) phong là Đô hộ Bá sứ, làm tiên phong đi đánh giặc Chiêm Thành và khi chống nhau với Chế Củ, cụ hy sinh, được vua truy phong là “Bách linh thần, hiển ứng Linh phù, Trung đẳng Phúc thần Đại vương” là thành hoàng làng Bá Liễu (TP. Hải Dương). Hậu Duệ của cụ sau này có cụ Đoàn Lạn đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ

Đoàn Duy Hải (đời 5-2) ,

Cụ Hải định cư tại Tô Xuyên (Thái Bình), không có con, sau khi mất, cháu là Đoàn Thiện Nguyên (con cụ Đoàn Văn Khâm) được thừa tự.

Đoàn Thiện Hồng (đời 6-1),

Cụ Húy là Thiện Hồng, tự Phúc Hương, là Tiền ấm Quan hiệt Trung thần võ tướng, đỗ khoa thi năm Bính Dần 1086) – niên hiệu Quang Hựu thứ 2 - đời Lý Nhân Tông, được cử làm đại tướng quân đi dẹp loạn ở châu Thượng Nguyên (Thái Nguyên), được cấp thưởng lộc điền ở làng Xuân Độ, huyện Trường Tân (nay là huyện Gia Lộc, Hải Dương).

Con trưởng của tổ Đoàn Văn Khâm là Đoàn Thiện Hồng tự Phúc Hương, là cháu của Đại tướng Đoàn Văn Liễn, là chắt Đại tướng Đoàn Văn Lan, sinh quán làng Cố Phục, nguyên quán làng Tô Xuyên, cố quán Kẻ Noi, Kẻ Cáo, hương Lai Cáo (Từ Liêm, Hà Nội), danh hiệu Tiền ấm quan hiệt trung thần võ tướng. Ngài Đoàn Thiện Hồng đỗ khoa thi năm Bính Dần (1086), niên hiệu Quang Hựu thứ 2 đời vua Lý Nhân Tông, làm đại tướng nhà Lý, có công đánh giặc dẹp loạn ở châu Thượng Nguyện (Thái Nguyên), được cấp thưởng lộc điền ở làng Bong Độ, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu. Thời Hậu Lê còn gọi là làng Xuân Độ, huyện Gia Phúc, nay là thôn Thung Độ, xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, Hải Dương. Làng Thung Độ có con sông Tràng Thưa giúp việc tưới tiêu thuận lợi để phát triển nông nghiệp, ở Thung Độ có khu gò Mả Vua Đống Rùa cao nhất huyện Gia Lộc, nơi cát địa của họ Đoàn. Tổ Đoàn Thiện Hồng đã chiêu dân trị thuỷ, khai khẩn đất lộc điền lập ấp thang mộc, phát triển dòng họ, xây dựng xóm làng giàu thịnh. Sau là căn cứ hậu cần quan trọng của quân Hồng Châu phù Lý chống Trần. Nay còn dấu tích chiến luỹ Bắc Đẩu - Nam Tào ở dọc bờ sông Bến Tràng như đống Bắc Đẩu, đống Các, đống Am, đống Chót Vót, đống Vương Tự, đống Rùa, đống Nam Tào ... kéo dài khoảng 5 cây số do Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng xây dựng từ đầu thế kỷ 13. Phu nhân Đoàn Thiện Hồng là Lý Thị, nhũ mẫu của vua Lý Thần Tông.

`Tô Đoàn Thiện Hồng với phu nhân Lý Thị sinh ra Đoàn Quang Dao, Đoàn Trọng.

Cụ Húy là Thiện Hồng, tự Phúc Hương, là Tiền ấm Quan hiệt Trung thần võ tướng, đỗ khoa thi năm Bính Dần 1086) – niên hiệu Quang Hựu thứ 2 - đời Lý Nhân Tông, được cử làm đại tướng quân đi dẹp loạn ở châu Thượng Nguyên (Thái Nguyên), được cấp thưởng lộc điền ở làng Xuân Độ, huyện Trường Tân (nay là huyện Gia Lộc, Hải Dương).

Cụ Hồng có em là Đoàn Thiện Nguyên, sau về Tô Xuyên thừa tự chú là Đoàn Duy Hải và định cư tại đó

Cụ Hồng có 1 con là Đoàn Quang Dao

Đoàn Thiện Nguyên (đời 6-2),

Cư Nguyên ngụ tại Tô Xuyên và hưởng thừa tự chú là Đoàn Duy Hải

Đoàn Thiện Nguyên (đời 6-2),

Tổ Đoàn Thiện Nguyên đã từ Cổ Phục trở về Tô Xuyên để thừa tự chú Đoàn Duy Hải, quản lý ấp lộc điền của tổ phụ. Tổ Đoàn Thiện Nguyên thi đỗ làm quan triều Lý.

Đoàn Quang Dao (đời 7),

Tổ Đoàn tướng công huý Quang Dao, tự Phúc Trực là con của Đại tướng Đoàn Thiện Hồng là cháu của Thượng thư Đoàn Văn Khâm, là chắt của tướng Đoàn Văn Liễn. Sinh trú quán làng Bổng Độ, nguyên quán làng Cổ phục, cựu quán làng Tô Xuyên, cố quán Kẻ Noi Kẻ Cáo, hương Lai Cáo. Danh hiệu Tiền ấm Quan Vi Long Vũ Đại Huân Thần, đỗ khoa thi năm Bính Thân (1116), niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ 7 làm quan Đô thống trấn thủ đảo quan Vân Đồn (Quảng Ninh) từ năm Kỷ Tỵ (1149). Tổ Đoàn Quang Dao có công khởi dựng thương cảng Vân Đồn mở rộng quan hệ giao thương với các nước, phát triển kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng mặt phía đông của nước Đại Việt. Tước Yên quốc thượng tướng quân, Tổ Đoàn Quang Dao được cấp thưởng lộc điền ở Chạ Mắt (nay là thôn Tu Trình, xã Thuỵ Hồng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình). Tương truyền có đoàn thuyền của quan tướng nhà Lý, cờ biển chiêng trống đến bờ nam sông Hoá Giang thả quả bầu khô có tín phù của nhà vua, bầu trôi đến đâu thì họ Đoàn được nhận lộc điền đến đấy. Nước to thuận gió đưa quả bầu trôi qua một dải đất ngang huyện Thanh Lan, lộ Hải Thanh từ bờ hữu ngạn sông Hoá Giang đến tả ngạn sông Diêm Hộ. Vùng đó nay là đất các làng Tu Trình (Thuỵ Hồng), Quảng Nạp, Ô Trình (Thuỵ Trình), Trình Trại (Thuỵ Lương), Ngoại Trình (Thuỵ Hà). Các xã trên, nay đều thuộc huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Niên hiệu Chính Long Bảo ứng thứ 8 đời Lý Anh Tông năm Canh Thân (1170), tổ Đoàn Quang Dao cho con thứ ba là Đoàn Công Phúc Lãnh đến tổ chức khai hoang, quản lý đất lộc điền. Tổ Đoàn Quang Dao được thờ ở đền Quan Lạn huyện Vân Đồn, Quảng Ninh. Lễ hội hàng năm từ ngày 10 đến 20 tháng 6 âm lịch, có hội đua bơi thuyền Quan Lạn, thông điệp cho hậu thế ''chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo".

Năm Bính Dần (1266), niên hiệu Thiệu Long thứ 9, Trần Thánh Tông đã lấy một phần đất của Đoàn ở Tu Trình cấp cho Thượng Vị công chúa Trần Tam Nương, bà là con gái Trần Lý, em Trần Thừa, cô ruột Trần Thái Tông và là vợ thứ của Hồng hầu Đoàn Văn Lôi (đó là cuộc hôn nhân chính trị). Điền trang của bà Trần Tam Nương, dân địa phương vẫn gọi là Đồng Chúa. Thờ Bà Trần Tam Nương tại ban thờ Mẫu chùa Tu Trình (Phúc Khánh tự).

Làng Tu Trình tên thời cổ là Chạ Mắt, có cây cầu bắc qua sông đào, cầu làm bằng đá phiến ghép gọi là cầu Mắt (còn gọi cầu Đá). Thời Lý, Tu Trình thuộc lộ Hải Thanh (Thái Bình, Nam Định); thời Trần thuộc lộ Kiến Xương; thời Lê thuộc tổng Bích Du, trấn Sơn Nam Hạ, sau thuộc tổng Vân Cù, huyện Thanh Lan đạo thừa tuyên Sơn Nam; thời Nguyễn, làng Tu Trình thuộc tổng An Bái, huyện Thuỵ Anh, tỉnh Nam Định sau năm 1890 tách lập tỉnh Thái Bình. Nay là thôn Tu Trình, xã Thuỵ Hồng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình.

Cụ Húy là Quang Dao, tự Phúc Trực, đỗ khoa thi năm Bính Thân (1116) – niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ 7, làm Tiền Ấm quan Vi Long Vũ Đại huân thần, chức Đô thống trấn thủ đảo quan Vân Đồn từ năm Kỷ Tỵ (1149), có công khởi dựng thương cảng Vân Đồn và giữ yên bờ cõi mặt Đông đất Đại Việt, được phong tước Yên Quốc Thượng tướng quân, được cấp lộc điền ở trại Mắt - Tu Trình (Thái Bình). Tương truyền khi đoàn người đến bờ Nam sông Hóa, thả quả bầu khô có tín phù nhà vua, quả bầu trôi đến đâu thì họ Đoàn được nhận lộc điền đến đó. Khi ấy nước to, thuận gió quả cầu trôi qua một giải đất ngang huyện Thanh Lan, vùng đó nay là các làng: Tu Trình (Thụy Hồng), Quảng Bắc, Ô Trình (Thụy Trình), Ngoại Trình (Thụy Hà), Trình Trại (Thụy Lương), đều thuộc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Cụ Đoàn Quang Dao sinh ra 5 người con (4 trai, 1 gái) là: Đoàn Thiện Hổ, Đoàn Phúc Lãnh, Đoàn Văn An, Đoàn Chủ và Đoàn Thị Ngọc.

Đoàn Đại Cao (đời 7-2)

Tổ Đoàn Thiện Nguyên với phu nhân Ngô Thị sinh ra Đoàn Đạo Cao. Tổ Đoàn Đạo Cao tên tự hiệu là Nam An làm quan thái y triều Lê, là thầy thuốc giỏi, có tâm đức chữa bệnh cứu người, kê đơn bốc thuốc cho vua quan và nhân dân.

Tổ Đoàn Đạo Cao (có sách chép là Đoàn Đại Cao) được cấp lộc điền ở làng Bệ (nay thuộc An Bài, Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Tổ có công trị thuỷ khai hoang mở trang ấp lập làng Bệ. Khi Tổ qua đời vua nhà Lý sắc chỉ dân làng Bệ tạc tượng lập miếu thờ, gọi tên nôm là miếu ải, trước cửa miếu có tấm đá lớn gọi là dược thạch. Trải gần nghìn năm nay tấm dược thạch vẫn được giữ gìn bảo quản và là phương thuốc tâm linh chữa bách bệnh cho mọi người, mọi nhà trong vùng. Khi có bệnh tật, người xưa đến cạo bột đá để uống hoặc để bôi vào vết thương, mụn nhọt một lần là khỏi. Tấm dược thạch miếu ải có ý nghĩa tâm linh trong lòng nhân dân làng Bệ. Mặt tấm dược thạch có chạm khắc nhiều chữ nho, niên hiệu Thành Thái thứ 7 năm ất Mùi (1895) đã được sao chép chữ nho vào tấm lụa để lưu giữ lâu dài ở miếu ải. Tượng thờ có yểm tâm ghi “ Thái thuỷ tổ tiền triều lương y viện Đoàn tướng công huỷ Đạo Cao tiên sinh thần tượng". Trong lòng tượng yểm 27 đồng tiền trinh nhỏ và một đồng tiền trinh lớn đều bằng chất liệu đồng tốt, tượng trưng nhị thập bát tú hội đủ trong thần tượng Tổ Đoàn Đạo Cao. Miếu hiệu ghi “Đoàn Nam An linh từ”. Hàng năm chức sắc và nhân dân mở lễ hội, việc đầu tiên đến miếu ải làm lễ danh y thành hoàng Đoàn Đạo Cao rồi rước thần tượng về đình làng Bệ (An Bài) tế lễ. Các triều đại đều có sắc phong thượng đẳng thần. Đến nay đã có 38 đời hậu duệ vẫn ở làng Bệ. Cũng có nhiều chi phái chuyển cư đến các địa phương trong nước.


Tượng Đức Thánh (ngự y) Đoàn Đạo Cao (Đoàn Đại Cao)

Thờ tại miếu ái, xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

Đoàn Trọng (đời 7-?).

Đoàn Trọng, đỗ đại khoa làm quan nhà Lý. Đoàn Trọng sinh ra Đoàn Đối đỗ Võ biền Tạo sĩ làm tướng nhà Lý. Đoàn Đối sinh ra Đoàn Nhân đỗ Võ biền Tạo sĩ làm tướng nhà Lý. Đoàn Nhân sinh ra Đoàn Kép đỗ khoa thi năm Giáp Tí (1204) làm quan nhà Lý, rồi làm phó tướng của Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng, có công đánh Trần phù Lý, ngài là trung thần của nhà Lý. Ngài được thờ làm thành hoàng ở đình làng Chi Long, xã Hoàng Đôi (xưa là tổng Đồng Than), huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ngài còn được thờ ở An Hoà, Vĩnh Bảo, Hải Phòng….

Đoàn Thiện Hổ (đời 8-1),

Tổ Đoàn tướng công huý Thiện Hổ, tự Phúc Thung còn có tên là Đoàn Hiền, sinh năm Mậu Ngọ (1138), mất năm Giáp Dần (1194), sinh quán làng Bổng Độ, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (tên địa danh thời Lý) nay là thôn Thung Độ, xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, Hải Dương; nguyên quán làng Cô phục (nay là thôn cổ phục, xã Kim Hưng, huyện Kim Thành, Hải Dương); cựu quán làng Tô Xuyên (nay thuộc xã An Mỹ, Quỳnh Phụ, Thái Bình); cố quán Kẻ Noi Kẻ Cáo, hương Lai Cáo (Từ Liêm, Hà Nội). Danh hiệu Tiền ấm Quan Đô đốc Thần vũ Thủy quân Đẳng sứ. Tổ Đoàn Thiện Hổ đỗ khoa thi năm Giáp Tuất (1154), niên hiệu Đại Định thứ 14. Tổ Đoàn Thiện Hổ làm đại tướng nhà Lý, có công đánh giặc dẹp loạn ở Bãi Ngang (nay thuộc xã Quảng Thái, Quảng Xương, Thanh Hoá). Năm ất Dậu (1165) niên hiệu Chính Long Bảo ứng thứ 3, Tổ Đoàn Thiện Hổ được vua Lý Anh Tông cấp thưởng lộc điền ở làng Đoàn Trang, huyện Đường Hào (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên ). Tổ Đoàn Thiện Hổ làm Thái sư tể tướng triều vua Lý Cao Tông.

Tổ Đoàn Thiện Hổ với phu nhân Lý Thái Loan tức Nguyễn Thị Thái (theo ngọc phả đình Gia Viên, Hải Phòng), còn có tên là Nguyễn Thị Loan (theo ngọc phả đinh Trương Xá, Hưng Yên), lại được ghi là Nguyền Thị Phương (theo thần phả đình An cầu, Phù Cừ, Hưng Yên). Sách “Đại Nam nhất thống chí” quốc sử quán triều Nguyễn ghi tên bà là Nguyền Thị Khang sinh ra tam kiệt Đoàn Thượng, Đoàn Hoà, Đoàn Đại. Bà là nhũ mẫu của vua Lý Cao Tông.

Tô Đoàn Đại làm tướng nhà Lý, có đền thờ ở xã Thống Nhất, huyện Gia Lộc và thờ làm Thành hoàng tại đình ở làng Hai, tổng Phù Nội, đình thôn Nhạn Văn, xã Phượng Hoàng, đình làng Gia, Tổng Từ Ô, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Các triều đại có sắc phong thượng đẳng thần.

Đoàn Phúc Lãnh (đời 8 – 2),

Húy của cụ là Phúc Lãnh, tự Phúc Hiền, sinh ngày 8 tháng 1 năm Nhâm Tuất (1142) tại làng Bổng Độ, huyện Trường Tân, cố quán làng Lai Cáo (Hà Nội), cựu quán làng Tô Xuyên (Thái Bình), nguyên quán làng Cổ Phục (Hải Dương), sinh quán làng Thung Độ (Hải Dương), trú quán tại Tu Trình (Thái Bình). Là Tiền kinh triệu quân, đỗ khoa thi năm Ất Dậu (1165) – niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 3 - đời Lý Anh Tông, làm quan tới chức huyện lệnh huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (Gia Lộc, Hải Dương), sau thăng quan Đại thần Hà đê sứ. Niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 8 – Canh Dần (1170) đến Tu Trình khai khẩn lộc điền và thực hiện công việc vua Lý Anh Tông giao cho là trị thủy vùng Đông Bắc, lộ Hải Thanh (nay thuộc đất Thái Bình, Nam Định), được phong tước Hải Hầu, Ngài mất ngày mồng 9 tháng 12, cúng giỗ ngày 8 tháng 12 Âm lịch, có nhà thờ cổ kính tại Tu Trình.

Ngài là chú ruột và cũng là cha nuôi của Đoàn Thượng. Phu nhân của ngài là Lý Thị Thông, hiệu Từ Thiên, sinh ra Đoàn Văn Lôi, bà cũng là nhũ mẫu của Đoàn Thượng và Hoàng tử Lý Sảm (sau này là vua Lý Huệ Tông).

Tổ Đoàn Công Phúc Lãnh và Tổ bà Lý Thị Thông hiệu Từ Thiên là cha mẹ nuôi của các Tổ Đoàn Thượng, Lý Hải, Lý Nghiệp. Cả ba Tổ đều làm quan tướng nhà Lý, là trung thần có công được thờ ở nhiều nơi, các triều đại có tặng nhiều sắc phong thượng đẳng phúc thần. Bà Lý Thị Thông, hiệu Từ Thiên là nhũ mẫu của hoàng tử Lý Sảm, lên ngôi vua là Lý Huệ Tông.

Năm Canh Dần 1170, niên hiệu Chính Long Bảo ứng thứ tám, tổ Đoàn Công Phúc Lãnh đã đến cư trú tại Chạ Mắt, lộ Hải Thanh (nay là thôn Tu Trình xã Thuỵ Hồng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình) tổ chức chiêu dân, trị thuỷ, khai khẩn lộc điền của cha là Yên Quốc Thượng tướng Đoàn Quang Dao và làm công việc triều đình vua Lý Anh Tông cử đi trị thuỷ vùng đông bắc lộ Hải Thanh (nay là đất hai tỉnh Thái Bình, Nam Định). Tổ có nhiều công tổ chức đắp đê, khai kênh, đào sông, làm cầu cống, mở ấp lập làng trong đó có Tu Trình, phát triển kinh tế văn hoá, thành vùng hương ấp thịnh giàu, nhân dân an cư lạc nghiệp. Tổ được vua nhà Lý phong tước Hải hầu. Tổ tạ thế ngày mồng 9 tháng Chạp. Tế chạp giỗ tổ ông Đoàn Tướng công huý Phúc Lãnh ngày mồng 8 tháng Chạp hàng năm (tháng 12 âm lịch), tế xuân giỗ Tổ bà Lý Thị Thông hiệu Từ Thiên ngày mồng 8 tháng Giêng âm lịch, tế lễ linh đình. Đó cũng là ngày giỗ tổ Đoàn Văn Khâm học vị tương đương Bảng Nhãn, chức Thượng Thư bộ Công thời Lý. Các đời con cháu hậu thế cứ đủ năm đời thì hậu duệ đời thứ năm hoặc thứ sáu làm lễ qui rước bài vị thần chủ của vị đó lên thờ phối ở từ đường đại tộc Tu Trình và tế lễ mời chào phối hưởng với thượng tổ sáng nghiệp của dòng họ Đoàn ở Tu Trình.

Lăng mộ Thượng tổ Đoàn Công Phúc Lãnh tại gò Mắt Rồng, xứ Đồng Mả, thôn (làng) Tu Trình, xã Thuỵ Hồng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Có lăng mộ to đẹp.

Nhà thờ Tổ (từ đường Đoàn tộc đại tông) ở Tu Trình được xây dựng trên khu đất 3 mẫu Bắc bộ có phong thuỷ đẹp tốt (nay bị thu hẹp còn khoảng 300m2). Từ đường cổ kính xây dựng từ thế kỷ thứ 13, đã trùng tu sửa chữa nhiều lần mà vẫn giữ được nét kiến trúc nghệ thuật, đặc trưng văn hoá cổ kính, khang trang bề thế như một ngôi đình.

Tổ Đoàn Công Phúc Lãnh và phu nhân Lý Thị Thông hiệu Từ Thiên sinh ra Đoàn Văn Lôi, Đoàn Văn Phong, Đoàn Công Phúc Vũ, Đoàn Công Phúc Bình. Đoàn Công, Phúc Vũ chạy vào châu ái ( Thanh Hóa) lập nghiệp.


Giáp môn từ đường họ Đoàn - Tu Trình (Chạ Mắt)

Lăng mộ Thượng Tổ Đoàn Công Phúc Lãnh tại Đồng Mả

(Thôn Tu Trình, xã Thụy Hồng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)


Từ đường họ Đoàn tại xóm nam

(Thôn Tu Trình, xã Thụy Hồng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Tổ Đoàn Công Phúc Lãnh còn chép để hậu duệ biết thời điểm địa danh chuyển cư của người họ Đoàn thời vương triều nhà Lý như năm Canh Tí 1020 SCN niên hiệu: Thuận Thiên Thứ 11 đời vua Lý Thái Tổ đã có vị tổ họ Đoàn — Đoàn Văn Lan - từ Kẻ Noi Cáo lương Lai Cáo chuyển cư về ở Tô Xuyên (Quỳnh Phụ, Thái Bình). Rồi chi trưởng lại từ Tô Xuyên đến định cư ở các làng thuộc Hồng Châu (nay là Hải Phòng, Hải Dương và một phần Hưng Yên). Đến năm Canh Dần 1170 SCN niên hiệu Chính Long Bảo ứng thứ 8 thì Tổ Đoàn Công Phúc Lãnh chuyển cư từ Xuân Độ (Bổng Độ) đến chạ Mắt, nay là thôn Tu Trình (Thụy Hồng, Thái Thụy, Thái Bình).

Sách "Đoàn tộc phả ký" quyển 2 của họ Đoàn làng Tu Trình (trước thuộc tổng Bích Du, huyện Thanh Lan (nay là thôn Tu Trình, xã Thụy Hồng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Do tiến sỹ nho học Đoàn Công Phúc Luận làm quan Tổng tuần sát tam phủ, chép năm Quý Sửu 1613 SCN có ghi tiếp vào đoạn đồng dao quyển đầu (1212 SCN)

Thiệu Phong thập tứ

Một chi họ sang

Mở đất khai hoang

Lập ra xóm làng

Gọi tên Quảng Nạp

Người đông đất hẹp

Một chi họ ra

Nhập cư làng Cờ

Nguyên niên Hồng Thuận

Phả tộc chỉ rõ niên hiệu Thiệu Phong thứ 14 đời vua Trần Dụ Tông năm Tân Mão 1351 SCN có 1 chi họ Đoàn từ Tu Trình chuyển cư đến ở làng Quảng Nạp, nay là thôn Quảng Nạp, xã Thụy Trình, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Có chi hậu duệ đến ở Giai Phạm (Hưng Yên). Năm Canh Ngọ 1510 SCN niên hiệu Hồng Thuận thứ nhất Lê Tương Dực có Đoàn Công Phúc Trực hậu duệ Tổ Đoàn Công Phúc Lãnh chuyển cư đến ở làng Cờ tên chữ là Phan xá huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Sách “Đoàn gia tộc phả ký” của chi họ Đoàn ở làng Đoàn Xá (thôn Đoạn Xá, xã Đông Hải, huyện An Hải, Hải Phòng) từ năm 2013 đến nay là tổ Đoạn Xá 6, phường Đông Hải I, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Gốc họ Đoàn làng Tu Trình, xã Thụy Hồng, Thái Thụy, Thái Bình do tổ Đoàn Duy Ca cử nhân nho học, hào trưởng, nho sỹ cần vương, sỹ phu yêu nước chép phả năm Quý Sửu 1913 SCN niên hiệu Duy Tân thứ 7 triều Nguyễn. Có đôi câu đối sao từ sách "Đoàn tộc phả ký" quyển 3 do Hào trưởng là tổ Đoàn Duy Rền đã chép năm Quý Mùi 1883, niên hiệu Hiệp Hòa triều Nguyễn. Nay được treo tại nhà thờ chi họ Đoàn ở Đoạn Xá chính âm là Đoàn Xá (Đoạn Xá 6, phường Đông Hải I, quận Hải An, thành phố Hải Phòng - số nhà 31 ngõ 358 đường Đà Nẵng, Hải Phòng) 2 đôi câu đối đó là :

1. Tiên cư Lai Cáo, hậu đáo Tô Xuyên, ký sử Hồng Châu lưu cổ tích

ốc Tu Trình, cư Đoàn Xá, vân nhưng kế thế cái tiền cơ

Dịch nghĩa:

Họ Đoàn trước ở Kẻ Noi Cáo hương Lai Cáo, sau đến Tô Xuyên, công huân sử sách ghi tại đất Hồng Châu, ngọc phả thần tích còn lưu giữ tại các đình, đền, miếu.

Gốc nhà đất ở làng Tu Trình, yên vui ở Đoàn Xá, đời đời dòng dõi giữ vững thế gia văn phong, mở mang cơ nghiệp của tổ tiên.

2. Võ lược cự Đường,Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh hộ quốc huân danh tại Văn thao phù Khúc, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trân, An dân sử sách tồn.

Dịch nghĩa:

Họ Đoàn có công danh dũng lược chống các giặc Đường, Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh cứu nước bảo vệ tổ quốc.

Họ Đoàn có kế sách văn tài giúp các triều đại họ Khúc, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần trị quốc an dân còn mãi trong sử sách.

Thượng tổ khởi nghiệp họ Đoàn ở Tu Trình là Tổ Đoàn Công Phúc Lãnh, tự Phúc Hiền và Tổ bà Lý Thị Thông hiệu Từ Thiên

Đoàn Chủ (đời 8 – 3)

Cụ làm tướng nhà Lý, tháng 9 năm Đinh Mão (1207) cùng tướng Đoàn Thượng nổi dậy ở Hồng Châu, tháng 4 năm Kỷ Tỵ (1209) bị tử trận.

+ Tổ Đoàn Chủ, sau khi thi đỗ được làm quan tướng nhà Lý, tháng 9 năm Đinh Mão (1207) cùng tướng Đoàn Thượng được vua Lý Cao Tông cử đi đàn áp cuộc khởi nghĩa của nông dân nhưng các Tổ đã phát hiện thấy đó không phải là giặc gây loạn mà là lực lượng nhân dân đấu tranh chống bọn cường hào ác bá, quan tham lại nhũng nên các Tổ đã chiêu an, mở kho phát chẩn lúc dân đang đói lớn, kêu gọi họ về quê quán làm ăn. Nhưng triều đình đã nghe bọn nịnh thần sàm tấu, nhà vua ép đến cùng khiến các Tổ phải giữ mình ở Hồng Châu để bảo toàn. Tháng 4 năm Kỷ Tỵ (1209) tướng Đoàn Chủ bị trận vong trong khi đánh nhau với Phạm Bỉnh Di ở vùng núi Đông Cứu ( Bắc Ninh).

Đoàn Văn An (đời 8 – 4),

Tổ Đoàn Văn An tự Phúc Quang, sinh quán làng Bồng Độ, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (ngài là con thứ hai của Yên quốc Thượng tướng Đoàn Quang Dao), nguyên quán làng cổ phục (xã Kim Hưng, Kim Thành, Hải Dương), cựu quán làng Tô Xuyên (An Mỹ, Quỳnh Phụ, Thái Bình), cố quán Kẻ Noi Kẻ, Kẹ Cáo, hương Lai Cáo (Cổ Nhuế, Cáo Đỉnh, Phú Diễn huyện Từ Liêm, Hà Nội). Tổ Đoàn Văn An đỗ khoa thi năm Mậu Dần (1158), niên hiệu Đại Định thứ 19, làm quan nhà Lý, có công dẹp loạn được phong thưởng đất lộc điền ở làng Quyết Thị lộ Hồng Châu

Tổ Đoàn Văn An với phu nhân Trương Thị Ban, gia đình danh vọng phiệt duyệt trâm anh, tu nhân tích đức, chăm làm việc thiện, dốc hết gia sản cứu giúp dân nghèo, siêng làm công đức, được thân nhân chỉ cho nơi để mộ cát địa. ở gần bên sông phía phải trại Hồng Thị có một cái gò cao, bốn bề nước bao bọc, tả hữu có các gò như sao Thanh Long, Bạch Hổ ôm ấp, phía sau mộ có gò đống. Đây là thế đất phượng cầm tâm thuỷ, phía trước có con mộc, tả hữu có bút tinh, đao tinh la liệt, lại có long mạch nhập vào đầu. Mộ để chính huyệt hướng Đinh Quý (Bắc Nam), phát quý sinh ra trưởng là Đoàn Thưỏng, thứ là Đoàn Quang.

Đoàn Thị Ngọc (đời 8 – 5),

Bà Đoàn Thị Ngọc là hoàng phi vợ vua Lý Anh Tông, bà có đền thờ ở thị trấn Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, quanh năm hương khói, nhân dân trong vùng tế lễ tỏ sự tri ơn công đức của bà với dân với nước, với địa phương quê hương

Đoàn Thượng (1184-1228), (đời 9 – 1),

Thánh đản (ngày sinh) : mồng 7 tháng Giêng.

Thánh hoá (ngày giỗ) : mồng 6 tháng Chạp.

Tổ Đoàn Đông Hải Đại Vương húy Thượng, sinh giờ Nhâm Dần, ngày Giáp Dần tức mồng 10 tháng Giêng năm Nhâm Dần (1184) đời Lý Cao Tông tại làng Bổng Độ, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (nay là thôn Thung Độ, xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, Hải Dương), nguyên quán làng Cổ Phục, cựu quán làng Tô Xuyên (nay thuộc xã An Mỹ, Quỳnh Phụ, Thái Bình), cố quán Kẻ Noi Kẻ Cáo, hương Lai Cáo.

Thúc phụ kiêm nghĩa phụ là Tổ Đoàn Công Phúc Lãnh làm quan đại thân Hà đê, quan huyện lệnh Trường Tân. Nghĩa mẫu là Lý Thị Thông, hiệu Từ Thiên, làm nhũ mẫu của hoàng tử Lý Sảm (Lý Huệ Tông). Tổ Đoàn Thượng ở với nghĩa mẫu trong cung vua nhà Lý, được học hành đến nơi đến chốn, đỗ khoa thi năm Giáp Tý(1204), niên hiệu Thiên Gia Bảo Hựu thứ 3 đời Lý Cao Tông, rồi làm quan nhà Lý năm 23 tuổi.”

Nghĩa phụ của ngài là đại thần Hà đê sứ Đoàn Công Phúc Lãnh, tự Phúc Hiền, nghĩa mẫu là Lý Thị Thông, hiệu Từ Thiên

Chính thất của Đoàn Thượng sinh ra Đoàn Hưng Nhượng, năm Canh Thìn (1220) làm Chủ tướng giữ thành Ngọc Trục, chống Trần phù Lý, lập căn cứ ở vùng đất nay là xã Đông Lỗ, huyện Ứng Hòa, Hà Nội, có đền thờ ở Ngọc Trục.

Thứ thất của ngài là Phạm Thị Đoan, người làng Gia Viên, huyện An Dương, nay là phường Gia Viên, quận Ngô Quyền, TP.Hải Phòng, sinh ra Đoàn Văn và Đoàn Thị Châu. Tướng Đoàn Văn giữ chức Đô thống trấn thủ Vân Đồn, còn gọi là Đảo Quan (nay là huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh). Sau khi thất thủ, chạy vào Núi Ngọc, Ái Châu (Thanh Hóa) khai hoang lập nghiệp.

Ngài có 3 người con là: Đoàn Văn, Đoàn Hưng Nhượng và quận chúa Đoàn Phúc Khuê

Đoàn Hòa và Đoàn Đại (đời 9 -2 và 3),

Hai cụ đều là em ruột của Đoàn Thượng, đều có công lớn trong việc giúp anh cai quản đất Hồng Châu trong nhiều năm, nên sau khi mất được nhiều nơi thờ là Thành Hoàng.

Đoàn Văn Lôi (đời 9 – 4 ),

(Cụ là con của Đoàn Phúc Lãnh - chú ruột Đoàn Thượng),

Tổ Đoàn Văn Lôi đỗ khoa thi Đình “Tam Giáo” năm Giáp Tý (1204) niên hiệu Thiên Gia Bảo Hưu thứ 3 đời vua Lý Cao Tông rồi làm quan đại thần triều Lý, có công hưng doanh Hồng Châu, xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt. Tổ và các bào đệ Đoàn Phong, Đoàn Vũ, Đoàn Bình cùng với Tổ Đoàn Thượng và các quan tướng họ Đoàn, quân dân Hồng Châu giương cờ phù Lý chống Trần. Tháng 6 năm Đinh Sửu (1217), Đại tướng Dực vũ nguyên soái Đoàn Văn Lôi được vua Lý Huệ Tông phong tước Hồng hầu. Hồng hầu Đoàn Văn Lôi được thờ làm thành hoàng làng Lộ Vị, xã Thăng Long, huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình. Các triều đại Trần, Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn đều tặng sắc phong thượng đẳng phúc thần, nhân dân thờ phụng, hương hoả tuần tiết, hàng năm đại lễ hội khánh hạ, tế rước linh đình theo nghi thức Nhà nước (quốc lễ). Còn nhiều nơi thờ Tổ chưa thống kê đầy đủ. Thánh hiệu : “Dực Vũ đại nguyên soái, Hồng hầu Đoàn Văn Lôi, thống lĩnh chư dinh, kiêm tri thuỷ bộ, vĩ nhân lương tướng, anh hùng tu đức, học vấn kiến ư thi văn, tài khí tuyệt luân kinh bang thiên ư thao lược, quan chế nhi chí lệ chư thư, tài ư văn võ chu toàn, bách môn soái trung hiền thán phục, hùng võ kiệt văn, võ lược văn thao do thù công mậu đức, thống lĩnh tam quân uy lệnh nguy nga trí tráng, thân nhân luận cộng, khâm ngũ phủ mệnh lệnh chi gia, bảo quốc hộ dân mạc tráng thần công, phù chính trừ tà, anh danh thịnh đức, chuẩn y cựu phụng sự nhi thân tự điển. Trác vĩ dực bảo trung hưng thượng đẳng phúc thần”. Bài vị: “Hồng hầu Đoàn Văn Lôi thần vị”. Có nơi thờ bằng tượng.

Cụ là Đại tướng nhà Lý, cùng Đoàn Thượng phù Lý chống Trần, tháng 6 năm Đinh Sửu (1217) được vua Lý Huệ Tông phong tước Hồng Hầu. Đoàn Văn Lôi với chính thất phu nhân Lý Thị sinh ra Đoàn Nguyễn, Đoàn Cấm đều làm tướng nhà Lý, cùng theo Đoàn Thượng phù Lý chống Trần; tháng 6 năm Mậu Dần (1218), Trần Thừa và Trần Tự Khánh gả em gái là Trần Tam Nương cho Hồng hầu Đoàn Văn Lôi làm thứ thất, thế lực nhà Trần “trừ” được một thế lực chống đối quan trọng. Sau khi nhà Lý mất, tướng Đoàn Văn Lôi cùng vợ thứ là Trần Tam Nương về Trại Mắt (nay là Tu Trình, Thái Thụy, Thái Bình) ở ẩn. Về sau, cụ được dân thờ làm Thành Hoàng làng Lộ Vị, xã Thăng Long, huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình.

Hồng hầu Đoàn Văn Lôi với chính thất phu nhân Lý thị sinh ra Đoàn cấm, Đoàn Nguyễn.

Đoàn Thưởng (đời 9 .2-1),

Cụ là Con của cụ Đoàn Văn An (với phu nhân Trương Thị Ban). Thưởng công, thi đỗ làm Thị độc Hàn lâm Viện, rồi làm Tả thị lang bộ Hộ, có công bình Chiêm được vua Lý Cao Tông phong tước Công Bạ hầu, giúp ngài Đoàn Thượng phù Lý chống Trần. Có đền thờ ở phường Nhược Công (Hà Nội). Phu nhân của cụ là Nguyễn Thị La Nương, có tài hay chữ, vào Hoàng cung dạy công chúa, công nương, cung nữ, được vua phong “Thụ La công chúa, phù Lý chống Trần”, có miếu thờ ở phường Nhược Công.

Đoàn Thưởng sinh ngày mồng 5 tháng Giêng năm Đinh Dậu (1187) tại làng Quyết Thị, lộ Hồng Châu còn gọi là Hồng Thị. Đoàn Thưỏng mồ côi cha năm 11 tuổi, mồ côi mẹ năm 13 tuổi, Ngài đến ở với cậu được ăn học, có tài bẩm sinh, trí tuệ hơn người. Nhưng rồi cậu cũng qua đời, việc học dở dang, phải trôi dạt nhiều nơi kiếm kế sinh nhai, học bách nghệ tinh thông. Năm 18 tuổi ngài Đoàn Thưởng đến Thăng Long ở ấp Tây Nam sau gọi là phường Nhược Công còn có tên là Bộ Công, dạy nghề cho dân, dạy chữ cho con em họ, là người thày mô phạm, được mọi người trong vùng yêu quý.

Triều đình mở khoa thi năm Đinh Mão (1207), Ngài Đoàn Thưởng đồ đầu cả bốn kỳ liền. Vua Lý Cao Tông cho làm Thị độc viện Hàn Lâm, Ngài Đoàn Thưởng chăm học thêm tứ thư ngũ kinh, tam phần ngũ điển đều tinh thông. Nhà vua rất yêu quý thăng cho làm quan Tả thị lang bộ công. Vua Lý Cao Tông còn giao cho Ngài đứng đầu các hiệp thợ xây dựng toà chính điện, lầu rồng, gác thưởng nguyệt, tu sửa cung điện ở Núi Nùng, chùa Báo Thiên, chùa Long kinh cô pháp ở Tiên Du (Từ Sơn, Bắc Ninh), chùa Trường Liêu ở Tiêu Sơn (Yên Phong), làm mới, tu tạo nhiều nơi, chỉ 5 tháng công việc hoàn thành, vua ban thưởng và cho vinh quy bái tổ, phong là Trưởng quốc công Bạ hầu. Vua cho đổi ấp Tây Nam thành phường Bộ Công, sau này gọi là phường Nhược Công, nay là phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội và cho ngài Đoàn Thưởng lấy phường ấy làm ấp thang mộc. Người các họ Nguyễn, Lê, Phạm, Trần, Bùi, Vũ, Dương, Đỗ, Triệu, Hoàng, Trương...đều xưng thần tử của họ Đoàn, nhân dân được nhờ ân huệ. Nhờ có sự giáo hoá của ngài Đoàn Thưởng mà mọi nhà yên vui, mọi người có cuộc sống no ấm, thật là một ấp giàu thịnh. Ngài về quê Quyết Thị mở tiệc khao dân và xây dựng từ đường thờ tổ tiên rồi lại trở về phường Nhược Công chọn thế đất như con rồng sau là sông Tô Lịch chảy vòng vèo uốn lượn, trước là bãi cát có ba ngôi sao làm án bút (3 gò), có 7 gò như 7 ngôi sao ôm ấp phía sau, con sông nhỏ chảy vòng ngoài, kiểu đất bên phải là thô cục phượng cầm tẩm thuỷ, khai hoa minh đường, tiền án cao phong, bên phải, bên trái. Đó là nơi xây tư dinh. Khi hoàn thành cáo yết ở bái đường, mở yến tiệc đãi dân 3 ngày. Ngài lo việc triều đình được 3 năm thì vua Lý Cao Tông phong ngài Đoàn Thưởng làm Đốc Lĩnh tướng quân đi cai quản châu Hoan, châu ái, lúc bấy giờ giặc Chiêm Thành quấy phá biên cương phía nam, châu ái và châu Bố Chính bị chúng chiếm đóng. Ngài cầm quân đánh giặc chỉ trong một trận đã đánh bại quân Chiêm Thành. Sau thắng trận, Ngài làm biểu dâng công, vua triệu Ngài về triều phong thêm chức tước. Vua tôi đồng lòng, Ngài luôn hầu cận bên vua, Phu nhân là Nguyễn La Nương (Nguyễn Thị La), một tiên nữ giáng trần vào nhà họ Nguyễn, cha tên huý là Nguyễn Diêu, mẹ là Mai Thị Huyền là người có tâm đức thiện. Nguyễn La Nương có tài văn chương tinh thông kinh sử, văn hay chữ đẹp, giỏi nữ công gia chánh, hiền thục nết na, tam tòng tứ đức vẹn toàn. Bà Nguyễn La Nương được triều đình tiến cử, nhà vua triệu vào cung dạy học các công chúa, cung nữ và các con gái của đại thần. Bà được phong là Thụ La công chúa. Ông bà càng thêm hiển vinh phú quý, được vua yêu mến. Chính vì vậy mà phường Bộ Công (Nhược Công) và các gia thần ngày càng hưng thịnh, thợ giỏi trong thiên hạ đến xin làm gia thần đều được phú quý và hưởng tước lộc.

Giận họ Trần thoán nghịch cướp ngôi vua Lý tội họ Trần không thể dung tha. Ông bà chiêu hiền nạp sĩ, chiêu mộ nhân tài hào kiệt, tích góp binh lương, giữ nghĩa lớn một lòng báo quốc. Ông bà hùng cứ phường Bộ Công, củng cố quân doanh rồi Đoàn Thưởng giao cho vợ là Nguyễn La Nương phu nhân ở lại trông coi. Đoàn Thưởng tổ chức các gia thần và những người ở phường Bộ Công được mấy trăm nguôi làm đội quân thủ túc cảm tử.

Từ đấy Đoàn Thưởng cùng với người anh con bác là Thái sư, Tể tướng, Phụ quốc Thái uý, Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng hợp sức hòng lấy lại ngôi vua. Hai Ngài cảm tác làm thơ ngâm vịnh quyết một lòng phục quốc, có bài thơ:

Thiên định sinh vi nhĩ mục nhân,

Trung ư quân giả hiếu ư thần,

Thể nhân dị đắc lưu phương xú,

Hữu thử càn khôn hũu thử tâm.

Dịch thơ :

Trời sinh ta như tai mắt,

Chữ trung chữ hiếu vẹn toàn,

Để lại tiếng thơm muôn thủa,

Thân này báo đáp càn khôn.

Thời gian đó, Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng đem thủ túc về Hồng Châu, chiêu mộ quân nghĩa sĩ được hơn mấy vạn người, đắp luỹ Yên Nhân, xưng vương hiệu, giương cờ phù Lý chống Trần.

Còn quan Thị độc Hàn lâm viện, Tả thị lang, Trưởng quốc công, Đốc lĩnh tướng quân, Công Bạ hầu Đoàn Thưởng đang chiêu mộ quân ở châu Hoan, châu ái, được nhiều người khắp quá nửa nước hưởng ứng. Khi có sứ giả của Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng đến triệu tập, ngài Đoàn Thưởng cho mấy nghìn quân ở huyện An Ninh đóng hơn ba trăm chiếc thuyền để vượt biển ra bắc. Ngày mùng 10 tháng 9 âm lịch, tướng Đoàn Thưởng cùng đoàn thuyền đến vùng Vạn Giang, bến Thanh Lũng, huyện Thanh Lâm bỗng gặp gió to bão lớn, làm đoàn chiến thuyền tan tác, ngài Đoàn Thưởng đắm thuyền chết. Biết tin, ngài Đoàn Thượng rất đau xót, than ôi đã mất một người trợ thủ đắc lực và sai một đoàn tướng sĩ đến nơi ngài Đoàn Thưởng hoá làm lễ truy điệu, lập đền thờ, cấp cho dân 500 quan tiền để hương hoả. Phu nhân Nguyễn La Nương đến thụ tang khóc thương thảm thiết, khi trở về, bà triệu tập các gia thần, các họ trong phường Bộ Công nói rõ chí đã quyết đem toàn bộ gia sản giao cho dân bản phường rồi bà tuẫn tiết đế theo chồng về cõi thánh.

Nhà Trần sai quan đến tế làm lễ an táng, cấp sắc phong thần, chiếu chỉ cho phường Bộ Công lập đình, đền, miếu thờ ông bà. Các triều đại Trần, Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn đời vua nào cũng đều cấp sắc phong thượng đẳng thần, gia tặng mỹ tự, hàng năm làm đại lễ theo nghi thức Nhà nước, quanh năm hương hoả, phụng thờ mãi mãi. Khi nhà Lê gặp nạn nguy Mạc thoán nghịch đã đến làm lễ tại đình Bộ Công, được các ngài Đoàn Thưởng và Nguyễn La Nương báo mộng giúp công âm phù đánh bại ngụy Mạc, nên các Ngài đã được Lê Trung Hưng tặng sắc gia phong.

"Công Bá hầu uy linh hiến ứng phù tộ thông minh, chính trực hùng đoan Đại Vương Đoàn Thưởng thượng đẳng phúc thần.

Thụ La công chúa Nguyên La Nương trinh thục huệ hoà từ nhân đoan thuận phu nhân thượng đẳng thần. "

Quan nhà Hậu Lê đến tế có thơ đề vịnh :

Phu trung phụ tiết, tử như sinh,

Sinh dã vinh hề, tử dã vinh,

Vạn cổ cương thường lưu quốc sử,

Miếu đình hương hỏa phối cao minh.

Dịch thơ:

Chồng trung vợ tiết (1) chết như sinh,

Sống cũng vinh mà chết cũng vinh,

Mãi mãi cương thường lưu trần thế,

Miếu đường hương hoả mãi cao minh.

Lễ thánh đản (ngày sinh) ngài Đoàn Thưởng mùng 5 tháng Giêng âm lịch hàng năm.

Lễ thánh hoá (ngày giỗ) ngài Đoàn Thưởng mùng 10 tháng 9 âm lịch.

Lễ thánh đản (ngày sinh) Thụ La công chúa mồng 8 tháng 3 âm lịch


Đoàn Quang

Đoàn Quang cư trú tại làng Hà Xá, lộ Hồng Châu (trang Hà Xá, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, đạo thừa tuyên Hải Dương - tên địa danh thời Lê), phu nhân là Đào Thị Phương, gia thế hào cường, phu phụ trung hậu, có lòng từ thiện công đức, nhưng muộn con, khi ông ngoài 50 tuổi, bà ngoài 40 tuổi mới sinh một bọc được hai con trai vào ngày 12 tháng 11 năm Nhâm Tuất 1202, đặt tên anh là Đoàn Bảng, em là Đoàn Lả. Cả hai đều phong tư đĩnh đạc, diện mạo khôi ngô, cầu thày thụ giáo, học lực tinh hiểu văn chương, thục luyện võ nghệ, sức cử đỉnh bạt sơn, kinh thiên vĩ địa, đáng đấng nam nhi, thiên tư hùng vĩ, phong thái mới trông thấy ai cũng kính, cũng yêu. Năm hai Ngài 18 tuổi, cha mẹ qua đời, gia cảnh cô bần, Đoàn Bảng cùng em là Đoàn Lả bỏ quê đến khu Lão cầu, trang Lam cầu, huyện Duy Tân, phủ Lý Nhân, đạo thừa tuyên Sơn Nam (nay thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) dạy học được 2 năm thì triều đình mở khoa thi kén tuyển nhân tài, hai Ngài đi thi và đều đỗ đại khoa năm Nhâm Ngọ 1222 SCN. Ngài Đoàn Bảng được triều đình bổ làm quan lộ Hồng Châu, Đoàn Lả làm quan cai trị đạo Sơn Nam, đều được cấp thực ấp vạn hộ.

Họ Trần cướp ngôi nhà Lý, hai Ngài đã khỏi binh giúp Thái sư Tể tướng, Phụ quốc Thái uý Đoàn Thượng, đánh nhau với giặc Trần, giặc Nguyễn Nộn ở xứ Đồng Đao (Mao Điền, Cẩm Giàng, Hải Dương) và đã tuẫn tiết hoá theo Ngài chủ tướng Đoàn Thượng vào ngày mồng 6 tháng Chạp năm Mậu Tuất (1238), dương lịch là tháng 1 năm 1239.

Lòng trung thành của các Ngài sáng như nhật nguyệt, nghĩa liệt khắp thiên hạ. Trần Thái Tông sắc phong thượng đẳng thần và chiếu chỉ cho khu Lão cầu, trang Lam cầu cùng những nơi đã được ơn các Ngài lên kinh đô rước sắc phong về tạc tượng lập đình miếu phụng thờ, quanh năm hương khói, hàng năm tế lễ theo nghi thức Nhà nước (quốc lễ). Các triều đại Trần, Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn đều cấp sắc phong thượng đẳng thần, thánh hiệu là:

Đông Bảng anh linh Đại Vương chính trực hùng đoan Đoàn Bảng thượng đẳng thần.

Đông Lả cương nghị Đại Vương hùng lược dũng quyết Đoàn Lả thượng đẳng thần.

Sắc chỉ cấm không được gọi tên huý.

Các đời sau của chi Quyết Thị chưa chắp nối được

Tổ Đoàn Nguyễn (đời 10.4 – 2),

Hồng hầu Đoàn Văn Lôi với chính thất phu nhân Lý thị sinh ra Đoàn cấm, Đoàn Nguyễn.

Tổ Đoàn Nguyễn thi đỗ làm tướng nhà Lý, có công phù Lý chống Trần. Tháng 4 năm Giáp Tuất (1214), tướng Đoàn Nguyễn đánh nhau với tỳ tướng của Trần Tự Khánh là Nguyễn Nộn ở núi Đông Cứu (Gia Luơng, Bắc Ninh), Tổ Đoàn Nguyễn bị Nguyễn Nộn hãm hại.

Đoàn Cấm (đời 10.4 – 1),

Đoàn Cấm thi đỗ rồi làm quan nhà Lý, là trung thần có công phù Lý chống Trần, sử chép : năm Quý Dậu (1213) niên hiệu Kiến Gia thứ 3, vua Lý Huệ Tông thân chinh đi đánh giặc Trần, thì các tướng Hồng Châu là Đoàn cấm, Vũ Hốt, Đinh Cẩm đã giúp vua đánh bọn anh em họ Trần và Nguyễn Nộn, Phan Lân ở Ô Chợ Dừa (Hà Nội) để cứu giá vua Lý Huệ Tông.

Đoàn Văn (đời 10 -1),

Tướng Đoàn Văn giữ chức Đô thống trấn thủ đảo Vân Đồn còn gọi là Đảo Quan (nay là huyện Vân Đồn, Quảng Ninh). Sau khi Hồng Châu thất thủ, Đoàn Văn chạy lánh nạn vào Núi Ngọc, ái Châu làng Đồng Đội, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh hóa (nay là xã Tân Dân, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá) xây đền thờ cha mẹ ở chân núi Ngọc (bị giặc Minh phá làm đồn binh chống dân ta và nghĩa quân Lê Lợi. Đoàn Văn sinh ra Đoàn Trang Tùng và Đoàn Cao Sơn. Đô thống Đoàn Văn được dân làng Đinh Xá, tổng Văn Mỹ, huyện Bình Lục, Hà Nam thờ cùng với cha là Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng tại đình làm thần Thành Hoàng.

Người con đầu: Đoàn Cao Sơn định cư ở Thanh Hoá sinh ra các thế hệ họ Đoàn trên đất Thanh Hoá rồi tiếp tục chuyển cư vào các tỉnh phía Nam.. Đời sau cụ Đoàn Cao Sơn ở Thanh Hoá, đông nhất hiện nay là ở vùng Quảng Xương và Tĩnh Gia; Vào thời nhà Hồ có tướng Đoàn Phát, chức Hàn lâm thị giảng dưới thời Hồ Hán Thương, sau giúp Lê Lợi chống quân Minh thắng lợi, được phong là Tham tán quân vụ.

Người con thứ hai: Đoàn Trang Tùng chuyển cư ra Hội Xuyên, huyện Gia Lộc, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương, phát triển dòng họ ở vùng đất này.

Hậu duệ của nhánh này đến đời thứ 3 có Đoàn Nhữ Hài rất nổi tiếng công đức toàn tài, được cả vua Trần Anh Tông và vua cha – Thái Thượng hoàng Trần Nhân Tông rất kính trọng.

Đoàn Hưng Nhượng (đời 10 – 2),

Ông là con cụ Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng. làm Tiền kinh triệu quân Long dực Đô Thống Vân Đồn trấn thủ.

Nguyên quán: Tại thôn Trung độ, xã Gia Phúc, Huyện Trường Tân, nay là Huyện Gia Lộc, Tỉnh Hải Dương.

Năm 1220 về đất Ngọc Trục (nay là xã Đông Lỗ, huyện Ứng Hòa, Tỉnh Hà Tây) lập căn cứ, ông biết rõ kế sách diệt trừ Tôn thất nhà Lý, làm nhẹ mặt chống đối, tự bên trong của chú cháu Trần Thủ Độ.

7.HỌ ĐOÀN DƯỚI TRIỀU TRẦN (1225-1400)

Năm 1225, Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng, 7 tuổi. Quyền bính nằm cả trong tay quan điện tiền Trần Thủ Độ.

Năm 1226, dưới sức ép của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng mình là Trần Cảnh (Trần Thái Tông), cháu của Trần Thủ Độ, khi ấy cũng mới 8 tuổi. Quyền hành vẫn trong tay Trần Thủ Độ với địa vị Thái sư. Trần Thủ Độ tìm mọi cách để “nhổ sạch rễ” họ nhà Lý, củng cố địa vị cho họ Trần. Nhà Lý kết thúc ở đây.

Những việc làm của Trần Thủ Độ gây nên một cuộc khủng hoảng chính trị, gây nhiều bất bình trong dân chúng. Thậm chí còn gây nên mâu thuẫn lớn giữa một số người trong họ Trần. Tuy nhiên, thế lực của Trần Thủ Độ quá lớn nên mọi việc cuối cùng cũng êm xuôi. Triều đại nhà Trần dần phát triển và kéo dài 175 năm qua 12 đời vua (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Dương Nhật Lễ, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông, Trần Thiếu Đế). Triều Trần hưng thịnh nhất sau khi 3 lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên (Trung Quốc).

Năm 1258 quân Mông Cổ xâm lược nước Đại Việt của nhà Trần. Khi ấy Mông Cổ là một đại đế quốc lớn nhất thế giới trong lịch sử, có lãnh thổ bao gồm khỏang 40 nước trải dài từ bờ Thái Bình Dương cho tới Trung Đông, Đông Âu và vẫn tiếp tục bành trướng: “Vó ngựa Mông Cổ đi tới đâu, nơi ấy cỏ cây không mọc được”. Lần xâm lược Đại Việt này nằm trong kế họach bành trướng xuống phía Nam của Đại hãn Mông Cổ lúc đó là Mông Kha (Mong Ke).

Năm 1254, Ngột Lương Hợp Thai tiến chiếm thành công nước Đại Lý - quốc gia của người Thoán Bặc (người Di ở Vân Nam) - và bắt sống vua Đại Lý là Đoàn Hưng Trí. Từ năm 1252, Ngột Lương Hợp Thai và Hốt Tất Liệt đánh Đại Lý, chiếm được kinh đô từ năm 1253, sau đó Hốt Tất Liệt nhận việc mới và Ngột Lương Hợp Thai trở thành tổng chỉ huy.

Quân đội của Ngột Lương Hợp Thai gồm kỵ binh Mông Cổ và quân sĩ người Di. Tổng cộng là cỡ 2,5 vạn. Tiên phong là tướng Triệt Triệt Đô. Ngoài A Truât, con trai Ngột Lương Hợp Thai, còn có phò mã của Mông Cổ là Hoài Đô. Dẫn đường là Đoàn Hưng Trí – vua Đại Lý.

Năm 1254, Quân Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy chia làm nhiều cánh tràn vào Đại Việt tới Bạch Hạc (Vĩnh Phú ngày nay) thì tập hợp lại cùng tiến về Thăng Long. Vua Trần Thái Tông và các tướng lĩnh lần đầu ra quân gặp cường địch, non kinh nghiệm đối phó với kỵ binh Mông Cổ nên liên tiếp thua trận phải thi hành kế sách bỏ Thăng Long vườn không nhà trống rút về phía Nam bảo toàn lực lượng chờ thời cơ, đồng thời để một số quân ở lại kết hợp với dân chúng quanh vùng đánh du kích. Quân Mông Cổ vào đến Thăng Long không cuớp bóc được nhiều của cải lương thực để nuôi quân lại không quen khí hậu nên sinh bệnh, mệt mỏi, rối loạn đội ngũ, nhụt nhuệ khí chiến đấu. Một đêm, Vua Trần bất ngờ tổ chức tập kích doanh trại quân giặc. Quân Mông Cổ hốt hoảng không kịp phản ứng giày xéo lên nhau mà chạy, bị giết rất nhiều. Đại quân Trần truy sát lại thêm phục binh quân Trần đổ ra chặn đánh khắp nơi, quân Mông Cổ chạy về Vân Nam (Trung Quốc) mà không có thời gian dừng lại giết cướp. Chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng Đại Việt sạch bóng quân Mông Cổ. Chúng chỉ ở Thăng Long vỏn vẹn được 9 ngày.

Đoàn Trang Tùng (đời 11 – 1),

Con trưởng Đoàn Văn là Đoàn Trang Tùng chuyển cư về gần cựu quán ở làng Hội Xuyên, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (nay là thôn An Tân, xã Gia Tân, huyện Gia Lộc, Hải Dương), trông nom phần mộ và phát triển dòng họ ở vùng này. Lúc mới về Hội Xuyên thì Trang Tùng ẩn tính Đào (họ Đào) vì e nhà Trần trả thù, sau thấy ổn nên đã công khai danh tính đổi lại họ Đoàn.

Cụ là con của Đoàn Văn An định cư ở Thanh Hóa, sau trở về làng Hội Xuyên, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu để phụng sự gia tiên, đổi sang họ Đào, đến đời Trần Minh Tông đổi lại là họ Đoàn.

Đoàn Cao Sơn (đời 11 – 2),

Đoàn Cao Sơn lập làng Đồng Đội, truyền bá nghề trồng cây thuốc làm hàng hoá nên làng rất trù phú. Đầu thế kỷ 15 rất đông hậu duệ của Đoàn Cao Sơn bị giặc Trường Phụ (giặc Minh) đuổi để chúng chiếm vùng đất chân núi Ngọc lập khu đồn trại khống chế nghĩa quân Lê Lợi ở Lam Sơn. Nên người họ Đoàn phải chạy loạn đến vùng đất phía bắc cách làng Đồng Đội 10 cây số, lập làng Thượng Đình, Quảng Xương (Thanh Hoá) và tham gia nghĩa quân Lam Sơn, nổi bật có Đoàn Phát, đỗ Thái học sinh thời Trần mạt, làm quan chức Hàn lâm thị giảng đời nhà Hồ, sau giúp Lê Lợi đánh giặc Minh. Đoàn Phát được phong chức Tham tán quân vụ, lập công góp phần bình Ngô đại thắng năm Mậu Thân (1428). Nhiều hậu duệ của Đoàn Cao Sơn phát triển dòng họ Đoàn ở vùng Quảng Xương, Tĩnh Gia (Thanh Hoá) và còn chuyển cư vào các tỉnh miền Trung bộ, Nam bộ (Việt Nam) rất đông. Hiện nay con cháu đời thứ 32 ở làng Thượng Đình có 5000 đinh nam của 3 chi họ Đoàn Văn, Đoàn Đình, Đoàn Thế. Chi họ Đoàn Văn đông nhất có 3000 đinh.

Cụ là con của Đoàn Văn, ở lại Thanh Hóa, con cháu phát triển nhanh lập thành làng Đồng Đội. Hồi ấy có viên quan Hoạn gốc Trà phương huyện Vĩnh Bảo dậy nghề trồng thuốc lào làm hàng hóa, nên làng rất trù phú.

Đoàn Nhất Lang và Đoàn Nhị Lang (đời 12-1 và 2)

Ngài Đoàn Trang Tùng sinh ra Đoàn Đại Lang, Đoàn Nhị Lang, Đoàn Tam Lang. Trong tam kiệt nổi bật là Đoàn Tam Lang tên huý là Đoàn Thiện Hưng (Đoàn Phúc Hưng), chức cai hương thiên hộ. Thế kỷ 13, giặc Nguyên Mông xâm lược nước Đại Việt, nhà Trần mộ binh tuyển tướng, cả 3 anh em Đoàn Đại Lang, Nhị Lang, Tam Lang đều tòng quân được xung vào quân của phó tướng Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Đoàn Thiện Hưng thi đậu cử biền tạo sĩ, được giữ chức cai cơ đội thuỷ binh Thiên Vũ, tham gia đánh giặc Nguyên Mông năm ất Dậu (1285). Trong cuộc kháng chiến đánh giặc Nguyên lần thứ hai, Ngài Đoàn Thiện Hưng lập nhiều chiến công, được phong thưởng cấp đất lộc điền ở miền Đông bên bờ sông Bạch Đằng. Có một số con cháu của Đoàn Trang Tùng - Đoàn Thiện Hưng chuyển cư đến khai thác đất lộc điền đã sinh ra một số dòng họ Đoàn ở đấy.

Các cụ đều là con của cụ Đoàn Trang Tùng, đều có công giúp nhà Trần đánh thắng giặc Nguyên Mông.

Đoàn Phúc Hưng (đời 12-3),

Cụ là con thứ 3 của Đoàn Trang Tùng, định cư tại Kinh Môn - Hải Dương. Khi quân Nguyên (Trung Quốc) ồ ạt tiến vào xâm chiếm nước ta, Cụ đã cùng 2 người anh xung vào đội quân của Huệ Vương lập nhiều công lớn giúp nhà Trần đánh thắng giặc Nguyên Mông, người đương thời ca ngợi gọi là Tam kiệt họ Đoàn.

Cụ sinh hạ được 2 người con là Đoàn Phúc Trung và Đoàn Phúc Hào.

Đến đầu năm 1285, quân Nguyên lại sang xâm lược nước ta. Nhà Nguyên bên Trung Quốc là do Hốt Tất Liệt, em trai của đại hãn Mông Cổ Mông Kha, diệt nước Tống, độc chiếm Trung Quốc dựng nên. Vì vậy ta hay gọi quân Nguyên là Nguyên Mông hay Mông Nguyên.

50 vạn quân Nguyên chia làm 3 đường tiến chiếm Đại Việt. Đích thân con trai Hốt Tất Liệt, Thái tử Thoát Hoan, chỉ huy hai đạo quân bộ từ hai hướng Đông bắc, Tây bắc Đại Việt đánh xuống, đạo quân thủy do Toa Đô từ nước Chiêm Thành (sau khi lập nhà Nguyên, Hốt Tất Liệt đã sai Toa Đô đánh Chiêm Thành trước), phía nam Đại Việt đánh lên. Quân nhà Trần bị kẹp vào giữa. Vua Trần lúc này là Trần Nhân Tông cử Trần Quang Khải làm Thượng Tướng Thái Sư, Trần Quốc Tuấn làm Quốc Công Tiết Chế thống lĩnh ba quân chống giặc.

Quốc Công Tiết Chế đem quân chặn đánh quân bộ phía Đông của Thoát Hoan trước. Trần Nhật Duật thì chặn cánh quân phía Tây do Nạp Tốc Lạt Dinh chỉ huy. Trước thế giặc mạnh, vua tôi nhà Trần vừa đánh vừa rút lui chiến thuật. Quân Nguyên cứ thế chiếm Nội Bàng, Vạn Kiếp… Khi quân Nguyên tới Thăng Long thì vua Trần đã rút về Thiên Trường (Nam Định) bỏ lại kinh thành trống không như lần kháng Mông Cổ lần trước. Về Thiên Trường, Trần Quốc Tuấn cử Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải trấn giữ Hoan Châu (Nghệ An) chặn đường tiến quân Toa Đô. Khi Thoát Hoan chiếm Thăng Long thì Trần Quốc Tuấn lại kéo quân ra lấy lại Vạn Kiếp đánh sau lưng Thoát Hoan. Thoát Hoan bị vây, liền cho người về nước xin thêm binh cứu viện. Lúc đó, ở phía Nam, Trần Nhật Duật rồi Trần Quang Khải không ngăn được Toa Đô. Khi Toa Đô tiến vào đến Ái Châu (Thanh Hóa), vua Trần công kích Thoát Hoan ở Thăng Long nhưng không được lại lui về Thiên Trường. Thoát Hoan đuổi theo. Trần Quốc Tuấn phải đem quân từ Vạn Kiếp về Thiên Trường rồi cùng Vua Trần rút ra phía Hải Dương. Thoát Hoan đuổi theo sát gót. Đồng thời Toa Đô cũng kéo quân thủy theo đường biển từ Ái Châu ra đuổi theo. Trần Quốc Tuấn sử dụng kế nghi binh dụ quân Nguyên đuổi theo vua Trần ra đường biển còn mình đưa vua Trần thoát vào Ái Châu theo đường bộ, thoát hiểm trong tích tắc…

Thời tiết bắt đầu sang hè, nắng nóng và lụt lội làm cho quân Nguyên vốn chỉ quen khí hậu lạnh ở phương Bắc bị bệnh dịch rất nhiều, lương thực lại cạn kiệt nên giảm sức chiến đấu. Trần Quốc Tuấn chỉ chờ cơ hội như vậy để phản công. Ông cử Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản, Nguyễn Khoái,… chặn đánh quân thủy của Toa Đô ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương… Đích thân Trần Quốc Tuấn thì đánh lên Vạn Kiếp. Quả nhiên quân Nguyên thất thế. Toa Đô rút về Thiên Trường. Quân ở Vạn Kiếp chạy cả về Thăng Long. Liên lạc giữa hai cánh thủy bộ của quân Nguyên bị quân Trần cắt đứt. Quân Trần tập trung đánh Thăng Long. Thoát Hoan thua to, bỏ thành rút chạy về Bắc Ninh. Khi Toa Đô kéo lên Thăng Long định hội quân với Thoát Hoan thì Thoát Hoan đã chạy rồi. Toa Đô lui về đóng ở Tây Kết. Đến đây, Toa Đô bị đại quân của vua Trần chặn đánh, quân Nguyên bị đánh tan tác chết vô số kể. Các tướng Ô Mã Nhi, Lưu Khuê dắt tàn quân chạy vào Ái Châu. Quân Trần truy đánh rất rát, cuối cùng Ô Mã Nhi, Lưu Khuê phải bỏ thuyền tướng lấy thuyền nhỏ tháo chạy ra biển về nước, quân Trần bắt sống được vài vạn tàn quân. Phía Thoát Hoan, sau khi về Bắc Ninh lại bị quân Trần đón đánh thì chạy sang Vạn Kiếp nhưng ở đây Trần Quốc Tuấn cũng đã bố trí sẵn quân mai phục. Giữa lúc quân Nguyên đang vượt sông Thương, quân Trần đổ ra đánh. Quân Nguyên chết vô số kể. Thoát Hoan cùng bộ tướng Lý Hằng gom tàn quân chạy về nước. Tới biên giới thuộc Lạng Sơn, quân Trần phục sẵn trên núi bắn tên xuống như mưa, Lý Hằng trúng tên độc chết liền. Thoát Hoan được hộ tướng giấu vào một vật dụng bằng đồng bỏ lên xe cho lính kéo chạy nhờ vậy sống sót, chạy thoát về nước. Đại Việt sạch bóng quân Nguyên.

Cuối năm 1287, Hốt Tất Liệt gom 30 vạn quân giao Thoát Hoan chỉ huy thẳng tiến Đại Việt để báo thù. Lần này quân Nguyên cũng chia làm 3 đạo: Thoát Hoan tiến vào qua ngả Lạng Sơn, Ai Lỗ vào theo hướng dọc sông Lô (sông Hồng ngày nay), Ô Mã Nhi theo đường biển vào sông Bạch Đằng, ngoài ra còn có đoàn thuyền lương thực do Trương Văn Hổ chỉ huy đi sau Ô Mã Nhi. Các cánh quân Nguyện hẹn hội quân tại Vạn Kiếp.

Quân Trần tổ chức đánh chặn nhưng cũng như lần trước. Quân Nguyên lúc này còn hăng hái nên đã tiến được vào đến Vạn Kiếp tuy bị tổn thất chút ít. Ô Mã Nhi có lẽ nóng lòng báo thù nên hung hăng vượt đi trước bỏ đoàn thuyền lương nặng nề của Trương Văn Hổ khá xa. Khi Ô Mã Nhi họp quân với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp thì đòan thuyền lương còn ở ngòai biển. Sau đó thì bị Trần Khánh Dư đánh chìm toàn bộ ở Vân Đồn. Thoát Hoan và Ô Mã Nhi trong đất liền khi đó vẫn không hề hay biết.

Tại Vạn Kiếp, Thoát Hoan chỉnh đốn đội ngũ tấn công Thăng Long. Trần Quốc Tuấn lại để thành Thăng Long vườn không nhà trống. Thoát Hoan vào Thăng Long không bắt được vua Trần liền sai Ô Mã Nhi gấp rút đuổi bắt. Không đuổi kịp, Ô Mã Nhi trút bực tức bằng cách cho quân cuớp bóc dân chúng, đốt phá nhà cửa, chùa chiền, đào bới lăng mộ vua Trần Cảnh,..

Không ở được Thăng Long, Thoát Hoan cho quân lui về Bắc Giang, Vạn Kíếp, đồng thời sai Ô Mã Nhi ra biển tìm đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ. Ô Mã Nhi ra đến cửa biển Đại Bàng (Hải Phòng) thì bị đánh tơi bời. Quân Trần bắt được 300 chiến thuyền. Ô Mã Nhi quay về Vạn Kiếp. Vua Trần cho người mang theo tù binh bắt được của đoàn thuyền lương sang trại Thoát Hoan báo tin đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ đã bị diệt rồi. Tin đó làm quân Nguyên lo sợ vì lương thực đã hết. Cùng lúc quân Trần phản công ở khắp nơi. Thấy rõ nguy cơ trước mắt, Thoát Hoan vội bàn với các tướng rút quân về nước. Tất cả tướng Nguyên đều đồng ý. Thoát Hoan rút theo đường bộ theo ngả Lạng Sơn, Ô Mã Nhi rút theo sông Bạch Đằng. Nhưng Trần Quốc Tuấn đã cho quân mai phục tất cả mọi nẻo đường rút chạy. Ô Mã Nhi, cùng bộ tướng là Phàn Tiếp lọt vào trận địa bãi cọc ở cửa sông Bạch Đằng, bị bắt sống, máu quân Nguyên nhuộm đỏ nước sông. Trên bộ, Thoát Hoan cũng bị chặn đánh nhiều trận. Xác quân Nguyên trải dài từ Vạn Kiếp tới biên giới Lạng Sơn. Cuối tháng 4/1288, Thoát Hoan mới về được châu Tư Minh (Quảng Tây, Trung Quốc). Đại Việt lại sạch bóng giặc ngoại xâm.

Đoàn Phúc Trung (đời 13-1),

Cụ là con Trưởng của cụ Đoàn Phúc Hưng, người Kinh Môn - Hải Dương, định cư tại Hội Xuyên, huyện Trường Tân (nay là Gia Lộc-Hải Dương).

Cụ là người được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn giao trọng trách là Chưởng Cơ luyện quân (1283) dưới sự chỉ huy của Nguyễn Khoái và Trần Khánh Dư, rồi trưc tiếp chỉ huy các chiến thuyền đi đầu nhử địch, sau đó quay đầu lại luồn lách các cọc nhọn, tiêu diệt các đoàn thuyền giăc, khi chúng đã mắc vào thế bẫy cọc trong trận thủy chiến trên Sông Bạch Đằng chống quân xâm lược Nguyên Mông (1283). Do lập nhiều công lao trong công cuộc chống giặc, cụ Trung được vua Trần rất ưu ái.

Ngài Đoàn Phúc Trung với phu nhân Nhữ Thị sinh ra Đoàn Nhữ Hài vào năm Canh Thin (1280) tại làng Hội Xuyên (nay là An Tân, xã Gia Tân, huyện Gia Lộc, Hải Dương).

Đoàn Phúc Hào (đời 13-2),

Cụ là con cụ Đoàn Phúc Hưng, người Hội Xuyên, huyện Trường Tân (nay là Gia Lộc, Hải Dương)

Đoàn Nhữ Hài (đời 14),

(chữ Hán: 段汝諧, 1280-1335)

Cụ là con cụ Đoàn Phúc Trung.

Đoàn Nhữ Hài (1280-1335), người làng Hội Xuyên, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (nay là huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương), là một danh thần đời nhà Trần. Cụ làm quan trải ba đời vua Trần Anh Tông (1293-1214), Trần Minh Tông (1314-1329) và Trần Hiến Tông (1329-1341), là người có năng lực hoạt động về ngoại giao và nội trị, lần lượt nắm giữ các chức vụ Ngự sử trung tán, Tham tri chính sự, Hành khiển, Thiên tử chiêu dụ sứ, Kinh lược Nghệ An.

Lúc nhỏ, cụ Đoàn Nhữ Hài học giỏi, nhanh nhẹn, có chí lớn. Trong thời gian đi học ở kinh đô, một hôm, cụ đang dạo chơi ở chùa Tư Phúc, gặp vua Trần Anh Tông. Vua biết cụ học giỏi, nhờ cụ viết tờ biểu tạ lỗi với vua cha. Lỗi là hôm ấy, từ sáng sớm, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông vào cung gặp lúc Anh Tông do uống rượu say, ngủ quên chưa dậy. Thượng hoàng Nhân Tông giận lắm, bỏ về Thiên Trường. Đến giờ Mùi (từ một đến ba giờ chiều), Anh Tông mới tỉnh dậy, vua hay chuyện rất hoảng hốt. Nhìn quẩn nhìn quanh không thấy những bề tôi thân tín đâu cả, vua bèn ra khỏi cung, nhằm hướng sông Nhị cho đỡ bức bối, tới cửa chùa Tư Phúc, vua gặp Đoàn Nhữ Hài ngồi đọc sách và nhờ cụ soạn bài biểu tạ tội với Thượng hoàng. Tờ biểu đã làm vừa lòng Thái thượng hoàng, vua được thứ lỗi. Nhân đó, vua Anh Tông đã đưa Đoàn Nhữ Hài vào làm Ngự sử trung tán. Một số quan bấy giờ đã làm thơ chê cười ông, nhưng ông vẫn bình thản làm việc tốt. Đoàn Nhữ Hài làm quan được lòng cả vua Anh Tông và Thượng hoàng Nhân Tông. Tháng 10 năm Quý Mão (1303), ông được thăng chức Tham tri chính sự nhờ có công trong một chuyến đi sứ Chiêm Thành trước đó.

Nhờ tài năng và chăm chỉ, năm 1305, Đoàn Nhữ Hài được đưa vào Viện khu mật, tham gia bàn bạc các việc quan trọng của đất nước. Năm 1307, ông được cử vào Thuận Hoá phủ dụ nhân dân địa phương vì đây là vùng mới sáp nhập Đại Việt. Mọi việc diễn ra tốt đẹp, ông được phong Hành khiển. Sau đó được cử làm Kinh lược sứ Nghệ An.

Trong cuộc dấy binh chinh phạt Chiêm Thành năm Tân Hợi (1311) của vua Trần Anh Tông, Đoàn Nhữ Hài góp phần quan trọng để giành lấy thắng lợi mà không hề tốn xương máu.

Năm Ất Hợi (1335), dưới triều vua Trần Hiến Tông, biên giới phía Tây Đại Việt bị Ai Lao quấy nhiễu. Quân Ai Lao xâm phạm cả ấp Nam Nhung thuộc đất Nghệ An. Lúc này, Đoàn Nhữ Hài đang chỉ huy quân Thần Vũ và Thần Sách, kiêm chức Kinh lược Địa sứ Nghệ An nên được trao chức Đốc tướng khi Thượng hoàng Minh Tông thân chinh đi đánh Ai Lao. Chẳng may khi qua sông bị quân Ai Lao đánh úp, Cụ hy sinh giữa trận chiến.

Hiện nay, tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có phố mang tên Đoàn Nhữ Hài. Ở quận 4, thành phố Hồ Chí Minh cũng có 1 con đường mang tên cụ nhưng lại viết là Đoàn Như Hài. Tại Thừa Thiên Huế, con đường đi lên đền thờ Huyền Trân công chúa tới lăng Đồng Khánh thuộc khu vực Thủy Xuân - Phường Đúc (xã Thủy Xuân) thành phố Huế cũng có tên đường mang tên Đoàn Nhữ Hài nhưng bị ghi nhầm thành Đoàn Nhữ Hải.

Trạng nguyên Đoàn Xuân Lôi (段 春 雷)

Cụ là người làng Ba Lỗ, huyện Tân Phúc (nay là xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang), chi họ nhà cụ định cư ở đây đến đời cụ đã được mấy đời, trước đó tổ tiên của cụ là người Thanh Hóa.

Cụ đỗ Trạng Nguyên khoa thi Thái học sinh, năm Giáp tý (1384) niên hiệu Xương Phù, thời Trần

Bia số 1 Văn Miếu Bắc Ninh số TT 8 ghi:

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ TỪ KHOA ẤT MÃO (1075) ĐẾN KHOA QUANG THUẬN (1469)

Đoàn Xuân Lôi (?-?) người xã Ba Lỗ, huyện Tân Phúc (nay thuộc xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang), đỗ Thái học sinh khoa Giáp Tý, niên hiệu Xương Phù, năm thứ 8 (1384), đời vua Trần Phế Đế. Ông làm quan đến Trung thư Hoàng môn Thị lang kiêm Thông phán Ái Châu.

Trong năm 1384 tháng 2, vua mở khoa thi Thái học sinh ở chùa Vạn Phúc, núi Tiên Du, Bắc Ninh. Trong khoa thi này, Đoàn Xuân Lôi đã đỗ đầu. Tấm bia ghi chép về Đoàn Xuân Lôi ở Trâu Lỗ (xã Mai Đình) có chép: “Ông họ Đoàn, tên huý là Xuân Lôi, bản quán ở đất Thanh Hoá. Cha ông đến cư trú ở Trâu Lỗ đã mấy đời”

Đoàn Xuân Lôi làm quan tới chức Quốc tử trợ giáo. Khi Hồ Quý Ly soạn sách Minh Đạo, gồm 14 thiên dâng lên vua, bàn một số việc của các bậc tiên thánh, vua ban chiếu dụ khen. Xuân Lôi có bàn với Đào Sư Tích cho rằng Hồ Quý Ly như thế là không phải, lạm dụng người xưa mà mưu việc riêng mình. Vì việc ấy mà Xuân Lôi bị đày đi xa xứ, mất ở đó. Sau được đem về Trâu Lỗ cát táng, mộ nay vẫn còn. Song con cháu họ Đoàn này hiện nay không biết di cư đi đâu.

Sau chiến thắng quân Mông Nguyên lần thứ 3, Đại Việt có được một thời gian dài ổn định và phát triển hưng thịnh. Nhưng từ đời vua Trần Dụ Tông trở đi thì nước Đại Việt đã có nhiều biểu hiện suy thoái. Vua quan bất tài, ăn chơi, sa đọa. Ngôi báu nhà Trần đã có lúc rơi vào tay ngoại tộc, giặc giã nỗi lên như nấm, các nước lân cận đều mang quân tràn sang cướp phá…Từ đời vua Trần Nghệ Tông trở đi, Hồ Quý Ly nổi lên là một nhà chính trị có tài và được trọng dụng. Nhờ đó nhân buổi rối ren, suy thoái của nhà Trần, Hồ Quý Ly đoạt được ngôi báu.

NHÀ HỒ

Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi tên nước Đại Việt thành Đại Ngu, và tiến hành nhiều cuộc cải cách lớn, trong đó có việc đổi tiền đồng sang tiền giấy “thông bảo hội sao”. Tuy nhiên không phải cuộc cải cách nào cũng được lòng dân chúng.

Năm 1406, nhà nước phong kiến bên Trung Quốc lúc này là nhà Minh cử các tướng Mộc Thạnh, Trương Phụ,… đem quân xâm lược nước Đại Ngu. Quân quan nhà Hồ chống cự quyết liệt nhưng vì Đại Ngu lúc đó chưa ổn định, nhà Hồ chưa được dân chúng ủng hộ,… nên cuối cùng quân Minh đập tan sức kháng cự của quân Hồ. Hồ Quý Ly cùng con trai và nhiều tướng bị bắt giải sang Trung Quốc. Nhà Minh nhập Đại Ngu thành quận Giao Chỉ của họ. Lúc đó nhân dân Đại Ngu mới bắt đầu khởi nghĩa ở nhiều nơi.

Năm 1407, Trần Ngỗi rồi Trần Quý Khoáng là quý tộc tôn thất nhà Trần, tiến hành khởi nghĩa chống quân Minh. Ban đầu cũng giành được một số thắng lợi đáng kể nhưng sau đó trong nội bộ mất đoàn kết nên nghĩa quân suy yếu và bị dập tắt vào năm 1412

Nhà Hồ mất, đất nước thuộc nhà Minh, Trương Phụ đuổi dân làng Đồng Đội lấy nơi xây đồn ải tại chân núi Ngọc, con cháu Họ Đoàn rất đông phải đi ra phía Bắc 10 km định cư, lập thành làng Thượng Đình, Phủ Quảng Xương,Thanh Hóa,



8.HỌ ĐOÀN DƯỚI TRIỀU LÊ SƠ (1428-1527)

Năm 1418, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa tại núi Lam sơn (thuộc Thanh Hóa ngày nay) và đã quy tụ được nhiều hào kiệt khắp nơi trong nước, trong đó có Nguyễn Trãi. Ban đầu lực lượng nghĩa quân còn yếu, chừng vài nghìn người, nhưng cũng dùng mưu thắng được nhiều trận lớn gây thanh thế như ở Lạc Thủy, Mường Một… Quân Minh tăng cường đàn áp với sự giúp đỡ của nhiều kẻ bán nước, chỉ điểm nên có lúc chúng đẩy nghĩa quân lâm vào tình trạng hiểm nghèo. Ba lần nghĩa quân phải trốn lên núi Chí Linh, chịu cảnh đói khát, thiếu thốn trăm bề. Ở lần thứ hai rút lên núi Chí Linh, năm 1419, nhờ 500 quân cảm tử do Lê Lai dẫn đầu liều chết đánh ra, mạo danh Lê Lợi để cho đánh lừa quân giặc nên nghĩa quân mới được bảo toàn xuống núi. Nghĩa quân Lê Lợi chiến đấu như vậy ròng rã mấy năm trời cho đến năm 1424 thì mới tạo nên chuyển biến có lợi cho mình.

Đầu năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn đã giành lại phần lớn đất nước, dồn quân Minh vào cố thủ trong 4 thành Đông Quan (Thăng Long), Chí Linh, Cổ Lộng, Tây Đô. Tướng quân Minh lúc đó là Vương Thông phải cho người về nước xin viện binh. Tuy nhiên, cả hai cánh quân cứu viện, với số quân 15 vạn, do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy đều bị quân Lê Lợi tiêu diệt ngay tại cửa ải. Liễu Thăng bị chém đầu tại trận ở ải Chi Lăng. Mộc Thạnh hay tin thì đang đêm mang quân chạy về nước nhưng cũng bị phục đánh tơi bời. Quân Lê Lợi giết được hàng nghìn lính, thu nhiều ngựa và vàng bạc, khí giới. Ngày 10/12/1427, túng quẫn vì bị vây mà không có viện binh, quân Minh đang cố thủ trong các thành đều ra hàng. Lê Lợi tha cho 10 vạn giặc Minh và còn cấp đủ lương thực cho chúng, sửa cầu đường cho chúng rút về nước. Cả bọn đều bái lạy.

Căm giận nhà Minh con cháu họ Đoàn theo Lê Lợi khởi nghĩa rất đông. Hiện nay con cháu ở làng Thượng Đình có 5.000 đinh của 3 chi họ Đoàn Văn, Đoàn Thế, Đoàn Đình ; Họ Đoàn Văn đông nhất có trên 3000 đinh, với khoảng 32 đời.

Sang đầu năm 1428, Lê Lợi làm lễ lên ngôi Hoàng đế ở thành Đông Kinh (Thăng Long) khôi phục tên nước Đại Việt mở đầu triều đại nhà Lê. (Gọi là nhà hậu Lê để phân biệt với nhà tiền Lê của Lê Đại Hành trước kia).

Đoàn Bá Tuân

Năm Quý Mùi 1483, Hồng Đức niên quân Lê Triều Thánh Tông Hoàng đế cử cụ đi trấn thủ Hải Dương, ông trải thờ 4 đời vua: Thánh Tông, Hiến Tông, Uy Mục, Tương Dục.

Năm Hồng Thuận thứ 3 (1513), Hoàng triều Tương Dục Đế. Khi giặc Ngô Văn Tông nổi dậy, cụ đem quân dẹp loạn, thế giặc rất mạnh, tình thế rối ren bởi Vua lo ăn chơi xa xỉ, nên cụ bị giặc vây hãm trong thành, khi Trịnh Duy Sản kéo quân đến giải vây thì cụ và 12 người khác đã bị giặc giết, trong đó có Thừa chỉ Nguyễn Anh Vũ (con trai Nguyễn Trãi).

Đoàn Bá Khởi

Sau đó, gia đình phải lánh nạn, vợ là Phan Thị Ôi cùng con đầu là Đoàn Bá Khởi chạy vào Miền Trung, phủ Diễn Châu, Nghệ An lập nên các thế hệ họ Đoàn đông đúc như ngày nay gồm các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Yên Thành.

Đoàn Bá Doãn

Một người con thứ 2 của cụ Đoàn Bá Tuân là Đoàn Bá Doãn chuyển về định cư ở vùng Văn Giang Hưng Yên, sau này phát triển ra các vùng phụ cận.

Đoàn Công Uẩn:

Cụ thuộc chi họ ở Quảng Nạp, Thái Thụy, Thái Bình. Cụ là người có công giúp Lê Lợi chống giặc Minh, được tặng danh hiệu Đoàn dũng tướng danh huân, được thờ làm Thành Hoàng ở Quảng Bắc.

Thái Thụy có một ngôi mộ cổ và dấu tích một con đường mang tên "Ngô Lột" gắn với những kỳ tích giúp dân diệt giặc Minh xâm lược của của ông tổ họ Đoàn là Đoàn Công Uẩn, một mãnh tướng thời Lê. Hẳn gia thế, sự nghiệp mãnh tướng Đoàn Công Uẩn đến nay vẫn chưa được nhiều người biết đến...

Đời Trần Thuận Tông (1388 - 1398 ) có người tên là Đoàn Phúc Lanh (ở huyện Từ Liêm, Hà Nội) được giao chức huyện lệnh huyện Trường Tân, Phủ Tân An (Tứ Kỳ, Hải Dương). Vua lấy công điền làng Quảng Nạp (Thụy Trình ngày nay) ban cho thực ấp. Năm Canh Thìn (1.400), Hồ Quí Ly lấy ngôi vua Trần Thiếu Đế. Hoàng thất nhà Trần dấy binh, định một phen giành lại vương triều.

Phò mã đô uý Vũ Uy và phò mã Phùng Thế Kỳ đưa tất cả con em, thân quyến và nhân mục về Tô Xuyên lập căn cứ chống nhà Hồ nhưng đại sự không thành. Năm 1407, giặc Minh xâm lược nước ta, Hưng nghĩa hầu Vũ Uy vào Lam Sơn giúp Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Minh, tướng quân Phùng Thế Kỳ và huyện lệnh Đoàn Phúc Lanh ở lại phủ nhà tiếp tục chống quân xâm lược nhà Minh.

Trong 20 năm anh dũng kiên cường đánh giặc (1407 - 1427), đất Thái Bình đã nhiều người đã trở thành danh tướng, danh thần, tên tuổi ghi trong sử sách như: Đinh Lan, Đinh Lễ, Đinh Liệt, Đinh Bồ, Vũ Uy, Bùi Quốc Hưng... Thế nhưng, có một chàng trai chưa ghi trong quốc sử nhưng được hậu thế đời đời kể chuyện như tấm gương trung liệt, nêu gương cho các thế hệ noi theo. Đó là con trai huyện lệnh Đoàn Phúc Lanh, tên là Đoàn Công Uẩn (Đoàn Uẩn) từ tuổi 18, 19 đã nuôi chí đánh giặc.

Trong sách : "Thái Thụy vùng ven biển" có chép :" Thủa giặc Minh xâm lược nước ta, người con trai họ Đoàn tên là Đoàn Công Uẩn mới ngoài 20 tuổi, căm thù giặc tàn sát dân lành, chàng cùng một số trai làng ban ngày ẩn trốn, ban đêm tìm mưu giết giặc. Một hôm chàng nghĩ ra kế khuyên dân làng lấy cói biển đập dập, đan thành bao bì để ban đêm chui vào đó nằm cho khỏi muỗi.

Giặc Minh thấy thế bắt dân làng đan thật nhiều bao cói nộp cho chúng để tránh muỗi. Khi các đồn giặc đã bắt đầu dùng bao cói, Đoàn Công Uẩn tổ chức một đội dân binh, ban đêm đột nhập vào đồn giặc, lấy dao đâm chết từng tên nằm trong bao, rồi bí mật rút ra. Bọn giặc bị chết nhiều hoảng sợ, chúng ra sức truy nã người con trai họ Đoàn.

Một đêm, sau khi giết được mấy chục tên giặc, chàng trai họ Đoàn bị chúng mai phục, bắt được. Giặc tra tấn thế nào chàng cũng không chịu cung khai, cuối cùng chúng đã giết chàng bằng cách lột xác chàng tại một con đường". Ngày nay, con đường đó vẫn còn dấu tích dân làng đặt tên "con đường Ngô Lột" (dân ta gọi giặc Minh xâm lược là quân Ngô).

Phần mộ táng của chàng trai họ Đoàn nằm ở ngay cạnh "con đường Ngô Lột" vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay. Năm 1992, dòng họ Đoàn ở Thụy Trình đã tổ chức trùng tu, tôn tạo ngôi mộ để bảo quản, thờ cúng lâu dài.

Tấm gương anh dũng của chàng trai họ Đoàn làng Quảng Nạp được vua Lê Cảnh Hưng tuyên dương bằng những chữ vàng có ghi trong sắc phong Cảnh Hưng năm thứ 18: "Mãnh tướng dũng liệt, phù tộ, triệu mưu, tả bộ, cương nghị, quả đoán, đốc bật hồng tục, khoan nhân, trợ thắng, thành công ". Các vua triều sau đều "giao cho dân Quảng Nạp tổng, Quảng Nạp xã tòng tiền phụng sự Mãnh tướng quan Đoàn Uẩn". Biết ơn công lao to lớn, giúp dân diệt giặc cứu nước của tướng quân Đoàn Công Uẩn, dân làng đã tôn cụ là Thần Hoàng thờ tại Đình Bắc (thôn Bắc, Thụy Trình).

Đoàn Công Bẩm: ( con cụ Uẩn)

Cụ được vua ban Quốc tính là Lê Công Bẩm, một võ tướng được phong chức Thái thường tự Thiếu khanh, tước Thiên hào tử, sau này chuyển về Hiến Phạm, Văn Giang, Hải Dương, hậu duệ của cụ sau này có Đoàn Doãn Luân, Đoàn Thị Điểm nổi tiếng, Tiến sĩ Đoàn Nguyên Thục, Tiến sĩ Đoàn Nguyên Tuấn...

Tiến trình nam tiến của Đại Việt

Vào thời kỳ đầu Lê Thánh Tông trị vì Đại Việt, vương quốc Chăm Pa thỉnh thoảng đưa quân ra cướp phá châu Hóa và đỉnh điểm là vua Chăm có những biểu hiện cấu kết với nhà Minh định trong đánh ra, ngoài đánh vào Đại Việt. Trà Toàn là vua Chăm lúc đó cướp ngôi không danh chính và có những thái độ khinh thường và nhục mạ triều đình Đại Việt, nhục mạ sứ thần Đại Việt và cười cợt, cho rằng "Mặt Trời" Đại Việt có ý định làm lu mờ "Mặt Trời" Trung Hoa.

Năm 1470, Lê Thánh Tông đã quyết định chinh phạt, sát nhập lãnh thổ Chăm Pa vào Đại Việt. Ông bá cáo với dân chúng trong nước biết một cách công khai và rõ ràng về lý do xuất quân, bằng chiếu thư đánh Chiêm. Ông thân chinh cầm 200.000 quân tiến vào đất Chăm Pa.

Tháng Ba 1471, kinh đô Chà Bàn (Vijaya) của người Chăm thất thủ. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, hơn 30.000 người Chăm bị bắt, trong đó có vua Trà Toàn. 40.000 lính Chăm Pa đã tử trận.

Sách Toàn thư ghi: “Tháng 8 (Canh Dần 1470) quốc vương Chiêm Thành Bàn La Trà Toàn thân hành đem hơn 10 vạn quân thủy bộ cùng voi ngựa đánh úp Châu Hóa. Tướng trấn giữ biên thùy Châu Hóa là bọn Phạm Văn Hiển đánh không nổi, phải dồn cả dân vào thành rồi cho chạy thư báo cấp... Ngày mồng 6 (tháng 11) vua xuống chiếu thân hành đi đánh Chiêm Thành... Vua bèn gọi 26 vạn tinh binh, xuống chiếu thân chinh... Hôm ấy, sai Thái Sư Lân quận công Chinh lỗ tướng quân Đinh Liệt Thái bảo Kỳ quận công Chinh lô tướng quân Lê Niệm đem thủy quân 3 phủ vệ Đông, Nam, Bắc đi trước. Ban hành 24 điều lệnh đánh Chiêm Thành trao cho các quân doanh và các vệ ty Cẩm Y, Kim Ngô, Thần Vũ, Điện Tiền... Ngày 18 thủy quân vào đến đất Chiêm Thành... Ngày mồng 7 (tháng 2) vua tự mình dẫn hơn 1.000 chiếc thuyền, hơn 70 vạn tinh binh ra 2 cửa biển Tân áp và cựu Tọa dựng cờ thiên tử, đánh trống hò reo mà tiến... Ngày mồng 1 tháng 3 hạ được thành Chà Bàn, bắt sống hơn 3 vạn người, chém hơn 4 vạn thủ cấp, bắt sống Trà Toàn rồi đem quân về... Tháng 6, lấy đất Chiêm Thành đặt làm Thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa. Đặt chức án sát sứ ở 12 thừa tuyên và đặt 3 ty ở Quảng Nam (1)

Sách Cương mục, sau khi tường thuật lý do thân chinh của vua Lê Thánh Tông, diễn biến cuộc hành quân và đánh thành Chà Bàn y như Toàn thư, ghi tiếp: “Vệ quân Thuận Hóa bắt sống Trà Toàn dẫn lên trước mặt vua, nhà vua ban chỉ dụ hỏi han yên ủi, sai dẫn cho ra ở ngoài ti trấn điện. Bèn hạ chiếu đem quân về... “

Quân Thuận Hóa bắt sống được Trà Toàn dẫn đến trước mặt vua. Trà Toàn cúi đầu quỳ xuống.

Vua hỏi qua người phiên dịch rằng:

"Ngươi là chúa nước Chiêm phải không?".

Toàn trả lời: "Vâng".

Vua hỏi: "Có biết ta là vua không?".

Toàn trả lời: "Tôi nhìn thấy phong thái, đã biết là thánh thượng rồi".

Vua hỏi: "Ngươi có mấy con rồi".

Trả lời: "Tôi có hơn 10 đứa con".

Đỗ Hoàn nói: "Hắn đã kêu van xin làm thần tử, xin bệ hạ tha cho khỏi chết".

Vua nói với Toàn:

Trong đám gươm giáo, ta sợ ngươi bị hại, nay may mà còn sống đến đây, ta thực yên lòng".

Bèn sai đưa Trà Toàn ra ngoài ty Trấn điện làm nhà nhỏ cho ở đấy. Các quan dẫn Toàn ra

hơi gấp. Vua bảo:

"Đưa đi thong thả thôi, người ta là vua của một nước, sao lại bức nhau đến như vậy?".

Ngày mồng 2 tháng 3, vua thấy đã phá được thành Chà Bàn, liền xuống chiếu đem quân về.

Sau chiến thắng, Lê Thánh Tông thực hiện chính sách mới, bình định và Việt hóa dân chúng người Chăm và sát nhập lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành (từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên ngày nay) vào Đại Việt. Tháng 6 năm 1471, lãnh thổ miền bắc Chăm Pa được lập thành thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa.

Trạng nguyên Đoàn Xuân Lôi (段 春 雷)

Cụ là người làng Ba Lỗ, huyện Tân Phúc (nay là xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang), chi họ nhà cụ định cư ở đây đến đời cụ đã được mấy đời, trước đó tổ tiên của cụ là người Thanh Hóa.

Cụ đỗ Trạng Nguyên khoa thi Thái học sinh, năm Giáp tý (1384) niên hiệu Xương Phù, thời Trần

Bia số 1 Văn Miếu Bắc Ninh số TT 8 ghi:

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ TỪ KHOA ẤT MÃO (1075) ĐẾN KHOA QUANG THUẬN (1469)

Đoàn Xuân Lôi (?-?) người xã Ba Lỗ, huyện Tân Phúc (nay thuộc xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang), đỗ Thái học sinh khoa Giáp Tý, niên hiệu Xương Phù, năm thứ 8 (1384), đời vua Trần Phế Đế. Ông làm quan đến Trung thư Hoàng môn Thị lang kiêm Thông phán Ái Châu.

Trong năm 1384 tháng 2, vua mở khoa thi Thái học sinh ở chùa Vạn Phúc, núi Tiên Du, Bắc Ninh. Trong khoa thi này, Đoàn Xuân Lôi đã đỗ đầu. Tấm bia ghi chép về Đoàn Xuân Lôi ở Trâu Lỗ (xã Mai Đình) có chép: “Ông họ Đoàn, tên huý là Xuân Lôi, bản quán ở đất Thanh Hoá. Cha ông đến cư trú ở Trâu Lỗ đã mấy đời”

Đoàn Xuân Lôi làm quan tới chức Quốc tử trợ giáo. Khi Hồ Quý Ly soạn sách Minh Đạo, gồm 14 thiên dâng lên vua, bàn một số việc của các bậc tiên thánh, vua ban chiếu dụ khen. Xuân Lôi có bàn với Đào Sư Tích cho rằng Hồ Quý Ly như thế là không phải, lạm dụng người xưa mà mưu việc riêng mình. Vì việc ấy mà Xuân Lôi bị đày đi xa xứ, mất ở đó. Sau được đem về Trâu Lỗ cát táng, mộ nay vẫn còn. Song con cháu họ Đoàn này hiện nay không biết di cư đi đâu.

Cụ ĐOÀN ĐẠI LANG ( Hậu duệ Đoàn Nhữ Hài)

Năm 1306 Thái Thượng hoàng Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để nhận vật sính lễ là 2 châu Ô, châu Rí (Lý), tháng 1 năm 1307 nhà vua cử Ngự sử Trung tán kiêm hành khiển tham tri chính sự Đoàn Nhữ Hài vào Thuận Hóa vỗ yên nhân dân trong vùng, đi theo đó là con cháu và các gia đình bộ tướng của Đoàn Nhữ Hài; Tiếp theo đó qua các thời kỳ biến động của đất nước, tiền nhân họ Đoàn tiếp tục theo quân chinh phạt Chiêm Thành vào định cư đất Thuận hóa như đời vua Lê Nhân Tông Thái hòa năm thứ 3 (1445) đem quân vào chinh phạt vua Chiêm Bí Cái; đời vua Lê Thánh Tông Hồng Đức năm thứ 2 (1471) đem quân chinh phạt vua Chiêm Trà Toàn

Từ cụ Đoàn Nhữ Hài (1280-1335) đến cụ Đoàn Đại Lang (năm 1471) khi vua Lê thánh Tông vào Quảng Nam có khoảng cách thời gian khoảng 140 năm. Trong giai đoạn này nước ta trải qua Nhà Hồ (1400 -1412) rồi giặc Minh đô hộ. Đến năm 1428 Lê Lợi khởi nghĩa và làm lễ lên ngôi Hoàng đế ở thành Đông Kinh (Thăng Long) khôi phục tên nước Đại Việt mở đầu triều đại nhà Lê. (Gọi là nhà hậu Lê để phân biệt với nhà tiền Lê của Lê Đại Hành trước kia). Nhà Lê giữ quyền từ 1428-1527. Trong các bộ gia phả của họ Đoàn chỉ ghi cụ Đoàn Đại Lang là hậu duệ của cụ Đoàn Nhữ Hài mà không chắp nối được chi tiết.

Cũng như gia phả hiện nay của Họ Đoàn ở Diễn Châu Nghệ An chỉ ghi chép từ năm Quý Mùi (1483) Tổ là Đoàn Bá Tuân được Lê Thánh Tông cử trấn thủ Hải Dương đến nay trên 20 đời của 535 năm lịch sử.

Gia phả do cụ Đoàn Huệ Hải (là con tứ 3 của cụ Đoàn Trạch Quỹ, ở làng Minh Tự - xã Diễn Bình - Diễn Châu - Nghệ An) cho biết: cụ thỉ tổ là Đoàn Bá Tuân là hậu duệ của cụ Đoàn Văn Khâm, nguyên quán làng Cổ Phúc, Huyện Kim Môn, tỉnh Hải D­ương. Cụ Đoàn Bá Tuân đ­ược Vua Lê Thánh Tông giao trấn thủ Hải Dương. Năm 1513 do loạn lạc dưới triều Lê Tư­ơng Dực bị giặc giết. Con cụ là Đoàn Bá Khởi chạy vào Nghệ An phát triển thành một Họ Đoàn khá lớn trên đất Nghệ An, rồi vào đến miền Trung Nam Bộ.

Có lẽ ở đây con cháu cần tìm thêm tư liệu để làm rõ giai đoạn lịch sử này… Sách Cương mục, sau khi tường thuật lý do thân chinh của vua Lê Thánh Tông, diễn biến cuộc hành quân và đánh thành Chà Bàn y như Toàn thư, ghi tiếp: “Vệ quân Thuận Hóa bắt sống Trà Toàn dẫn lên trước mặt vua, nhà vua ban chỉ dụ hỏi han yên ủi, sai dẫn cho ra ở ngoài ti trấn điện. Bèn hạ chiếu đem quân về...Có lẽ Cụ Đoàn Đại Lang quê Khuông Phụ nhưng là con cháu theo cụ Đoàn Nhữ Hài vào Thuận Hóa.

Cụ là hậu Duệ của cụ Đoàn Nhữ Hài, người xã Khuôn Phụ, huyện Gia Phước, phủ Thừa Tuyên, Hải Dương. Cụ vào định cư ở Duy Xuyên - Quảng Nam, Trú tại xã Ba Châu, huyện Hà Đông, phủ Thăng Ba, xứ Quảng Nam.

Ông, Bà sanh hạ 1 trai và 1 gái

Trai là ông Đoàn Công Huyền

Gái là bà Đoàn Thị Yểm

Cụ làm Cai cơ, theo Lê Thánh Tông đi đánh giặc Nam chinh.

Trong năm Lê Hồng Đức, có sắc lệnh trưng binh, cụ mang vợ con theo phò vua Lê Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, lập công bắt được tướng Chiêm Thành là Trà Toản, sau khi vua đánh giặc đã xong, vua bèn hạ chiếu cho tướng sĩ ban sự hồi trào, còn cụ Đoàn Công Huyền tấu cùng vua Lê xin ở lại tỉnh Quảng Nam, quy dân lập ấp, khai khẩn ruộng đất thành lập xã hiệu lúc bấy giờ ở Quảng Nam

Ông Đoàn Công Huyền xin lệnh trên ở lại đất Quảng Nam. Thời bấy giờ gọi là Quảng nam xứ (Từ thuận hóa trở vào) Ông quy dân lập ấp, khai khẩn ruộng đất thành lập xã hiệu đặt tên là đông yên Châu, gọi là Quảng Nam xứ Thang Ba Phủ, Hà Đông huyện, Đông Yên Châu.

Tên đất Quảng Nam xuất hiện từ năm Hồng Đức thứ 2 (tháng 6-1471, do vua Lê Thánh Tôn đặt cho dải đất vừa chinh phục được, dài đến cuối huyện Tuy Phước - Phú Yên ngày nay). “Quảng Nam thừa tuyên” có nghĩa là “đất mở rộng về phía Nam, vâng lệnh vua để tuyên dương đức hóa”

Nhà hậu Lê phát triển ổn định và đạt nhiều thành tựu lớn trong xây dựng đất nước qua năm đời vua: Lê Thái Tổ (Lê Lợi), Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông. Đến đời vua Lê Uy Mục thì bắt đầu xuống dốc.

Năm 1527, Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi vua cho mình. Trước đó, ông ta cậy có nhiều công nên lạm quyền, kết bè cánh và đã phế truất ngôi của Lê Chiêu Tông giao cho Lê Cung Hoàng. Nhà Mạc thành hình. Ở trong nước là thế nhưng khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung lại hèn kém trong ngoại giao với nhà Minh, nhún nhường nhận chức An Nam đô thống sứ do vua Minh “trao tặng” khiến nhân dân và nhiều quan lại phẫn nộ.

Năm 1530, Lê Ý ở Thanh Hóa nổi quân chống lại nhà Mạc.

Năm 1532, Nguyễn Kim tôn con của Lê Chiêu Tông lên làm vua (Lê Trang Tông), đóng ở Thanh Hóa, nhiều quan lại cũ của nhà Lê cũng theo về phò tá tạo nên một triều đình mới đối lập với nhà Mạc ở phía Bắc. Đại Việt lúc đó vì thế có hai triều đình ở hai miền Nam, Bắc.

Sau khi Nguyễn Kim chết (1546), vua Lê phong con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm lên thay cha. Trịnh Kiểm tiến hành loại trừ phe cánh của Nguyễn Kim để tập trung quyền lực vào tay mình. Các con của Nguyễn Kim, Nguyễn Uông bị bắt giết, Nguyễn Hoàng lo sợ nên tìm cách lánh bằng việc xin trấn giữ ở vùng Thuận Hóa. Trịnh Kiểm thuận ý cho vào. Họ Nguyễn vào vùng đó ngấm ngầm có ý lập nên “vương quốc” riêng của mình chống lại họ Trịnh nhưng bên ngoài vẫn tỏ về thuần phục, giúp họ Trịnh chống họ Mạc.

Năm 1570, Trịnh Kiểm chết. Trịnh Tùng thay.

Năm 1592, Trịnh Tùng đem quân đánh bại nhà Mạc ở Thăng Long, thống nhất đất nước, nhà Lê khôi phục, vua Lê bấy giờ là Lê Thế Tông. Tuy nhiên vua Lê chỉ là cái bóng. Họ Trịnh lập ra vương phủ riêng tồn tại bên cạnh triều đình vua Lê. Quyền lực nằm cả trong tay họ Trịnh.

Sử sách thường ghi Nguyễn Kim - cha của chúa Nguyễn đầu tiên Nguyễn Hoàng - là con của An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ, là cháu của Nguyễn Văn Lang (người tham gia cùng Lê Tương Dực khởi binh giành ngôi của Lê Uy Mục) và là chắt của Nguyễn Đức Trung. Và sử cũng ghi Nguyễn Văn Lang là em Nguyễn Thị Hằng, hoàng hậu của Lê Thánh Tông. Sự thực không phải như vậy.

10.HỌ ĐOÀN VIỆT NAM THỜI KỲ: VUA LÊ - CHÚA TRỊNH (1573-1599) VÀ GIAI ĐOẠN: TRỊNH – NGUYỄN PHÂN TRANH

Nguyễn Hoàng tức Chúa Tiên (1525-1613), con út của Nguyễn Kim, xưng Chúa năm 1558, có 10 con trai và 2 con gái. Một người con gái lấy chúa Trịnh Tráng. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thái tổ Gia Dụ hoàng đế.

Nguyễn Phúc Nguyên tức Chúa Sãi hay Chúa Bụt (1563-1635), con trai thứ sáu của Chúa Tiên, kế nghiệp năm 1613 vì các anh đều chết sớm và một anh bị Chúa Trịnh giữ tại Đàng Ngoài, có 11 con trai và 4 con gái. Chúa Sãi là người đầu tiên trong dòng họ mang họ Nguyễn Phúc. Tương truyền lúc mẹ ngài có thai chiêm bao thấy có vị thần đưa cho một tờ giấy trên có đề chữ "Phúc". Lúc kể lại chuyện, mọi người chúc mừng bà và đề nghị đứa bé ra đời được đặt tên là "Phúc". Nhưng bà nói rằng, nếu chỉ đặt tên Phúc cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ được hưởng phúc, bà đề nghị lấy chữ này làm chữ lót. Và khi thế tử ra đời bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Hi Tông Hiếu Văn hoàng đế.

Nguyễn Phúc Lan tức Chúa Thượng (1601-1648), con trai thứ hai của Chúa Sãi, kế nghiệp năm 1635 vì anh trưởng chết sớm, có 3 con trai và 1 con gái. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thần Tông Hiếu Chiêu hoàng đế.

Nguyễn Phúc Tần tức Chúa Hiền (1620-1687), con trai thứ hai của Chúa Thượng, kế nghiệp năm 1648 vì cả anh lẫn em đều chết sớm, có 6 con trai và 3 con gái. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thái Tông Hiếu Triết hoàng đế.

Ông ĐOÀN CÔNG HUYỀN

Ông “Bổn Canh Khai Cơ Đoàn Công Huyền vợ là bà Đào Thị Có, sanh hạ được 3 trai và 3 gái.

1./ Đặc Tấn Phụ Quốc, Thượng Tướng Quận, Cẩm y vệ, Đô chỉ huy sứ, tụ chỉ huy sức chưởng vệ sự thạch cuốn Đoàn Công Nhạn.

2./ Cai xã vệ thắng Bá Hầu Đoàn Công Tín (còn gọi là ông Tấn

3./ Ông Đoàn Công Luận

Ba người con gái là – Bà Đoàn Thị Dũ

-Bà Đoàn Thị Sa

-Bà Đoàn Thị Dữ

PHÁI NHỨT

Thạch Quận Công ĐOÀN CÔNG NHẠN.

A./ Đặc tấn phụ quốc, Thượng tướng quân, cẩm y vệ, Dô chỉ huy sức, ty chỉ tuyên huy sức chưởng vệ sự Thạch Quận Công ĐOÀN CÔNG NHẠN. Ông được Chu Tiên phong “Tham tướng Chơn Nguyên Hầu” củ soát các huyện Ông có nhị thê :

a./ Chánh thất bà LÊ THỊ DUYÊN sanh hạ 4 trai và 1 gái

1./ Phò ma Đoàn Công Khanh (hứa) vô tự (không có con trai)

2./ Ông Khám Lý Sầm oai hầu Đoàn Công Quảg (Đông yên Đông)

3./ Ông Đoàn Công Vi (Dực) ở tại Duy Trinh, Duy Xuyên

4./ Ông Đoàn Công Minh (Lập) ở tại Duy Trinh, Duy Xuyên

Bốn ông đều được chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần phong “quốc cực”

Gái là bà Đoàn Thị Cường

b./ Thứ thất bà Võ Thị Ngọc Thành, sanh hạ 1 gái là Đức Bà Đoàn Thị Ngọc Phi.

B./ Đặc Tấn Phụ Quốc, Thượng Tướng quân, Cẩm y vệ, đô chỉ huy sứ, ty chỉ huy sức thông chưởng quân quốc trọng sự tống Đốc quan, Tặng “Quốc cực, Khám lý sẩm oai hầu Đoàn Công Quãng ông cùng bà Đặng Thị Huệ sanh hạ được 3 trai và 5 trai. Ông đứcng tiền hiền làng Đông Giáp tức là Đông Khương bây giờ.

Ba trai là : 1 Chưởng kỳ vệ sự nghĩa sơn hâu Đoàn Công Gia, sanh hạ con cháu tại Đông Giáp.

2./ Chưởng Khám Lý Thắng Sơn ….. Đoàn Công Đợi, sanh hạ con cháu và đứng Tiền Hiền Tại Trung Thái (chợ Chùa) Duy An, Duy Xuyên.

3./ Cai phủ trang sơn hầu Đoàn Công Huy, con cháu hiện phần đông sanh cư tại TP.HCM.

*Đặc biệt Đức Bà Đoàn Thị Ngọc Phi, sinh năm Tân Sửu (1601). Hiện nay trong dân gian còn truyền tụng bà về tài văn thơ đối đáp. Theo văn nghệ nhân gian tập 1 (QNĐN) trang 0 có ghi.

Nguyên Chúa Thượng Nguyễn Phước Lan lúc còn trẻ sống với cha là Thụy Quận Công Nguyễn Phước Nguyên đang trấn thủ tại Dinh trấn Thanh chiêm ở Quảng Nam. Và một đêm trăng công tử Phước Lan cùng cha thả thuyền dong chơi trên dòng sông Thu Bồn. Phon cảnh hữu tình lòng người đắm say, giữa đêm trang thanh vắng bỗng cón tiếng hát véo von vọng lại:

“Tai nghe chúa Ngự thuyền rồng

Thiếp thương phận hiếp má hồng nắng mưa

Thuyền rồng Chúa ngự nơi đâu

Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình”

Nghe tiếng hát lạ, thuyền rồng vội ghé đậu ở ghềnh Điện Châu, dưới bóng dâu xanh nhuộn ánh trăng vàng Nguyễn Phước Lan đã gặp mười con gái họ Đoàn mến tài ứng đối thơ văn của bà Chúa cho rước về cung. Và người con gái họ Đoàn bên dòng sông Thu bồn kia về sau trở thành Hiếu Chiêu Vương Hoàng Hậu, mẹ của Thái Tôn Nguyễn Phước Tần. Hiện nay tại Chiêm Sơn, Duy Xuyên, về phía Tây Gò Cốc Hùng còn có Lăng Vĩnh Diêm “thờ Đức Bà Hiếu Chiêu Hoàng Hậu”.

PHÁI NHÌ

Cai xã vệ thắng Bá Hầu Đoàn Công Tín

Cai xã vệ thắng Bá Hầu Đoàn Công Tín còn gọi là ông Tấn. Ông có nhị thê:

a./ Chánh thất bà NGUYỄN THỊ CÓ sanh hạ 8 trai và 2 gái

b./ Thứ nhất bà ĐẶNG THỊ NIN (tức là bà Hè) sanh hạ 2 trai và 2 gái

…. Đoàn Công An => sanh con cháu ở Tân An, Quế Sơn

Bình Đào, Bình Triều thăng bình

2./ Ông Trọng Đoàn Công Hiến => không thấy ghi chú ở đâu

3./ Ông Triều Đoàn Công Kiểm => sanh con cháu ở An Lâm, Duy Hòa, Duy Xuyên.

4./ Ông Cẩm Đoàn Công Quới => sanh con cháu ở Ngọc họ, Tam Kỳ

5./ Ông Phú Đoàn Công Bổn => sanh con cháu ở Duy Trinh, Duy Xuyên.

6./ Ông Ký Đoàn Công Tá => sanh con cháu ở Ngọc Sa, Điệu Bàn

7./ Ông Diệu Đoàn Công Triều => sanh con cháu ở Quế Trạch, Mông Lãnh, Quế Sơn, Bình Chánh, Bình Định, Thăng Bình.

8./ Ông Đoàn Công Diên => sanh con cháu ở Xuân Phú, Quế Sơn.

9./ Ông Đoàn Công Thế

10./ Ông Đoàn Công Tùng

PHÁI BA

Ông Đoàn Công Luận, ông có tam thê.

a./ Chánh thất bà Kim sanh hạ 4 gái

b./ Thứ thất bà Phạm Thị Nhị Nương sanh hạ 4 trai

c./ Thứ thất bà Nguyễn Thị Phú sanh hạ 1 gái

Bốn người con trai :

1./ Ông Đoàn Công Trần không có con trai

2./ Ông Đoàn Công Hải không có con trai

3./ Ông Đoàn Công Danh sanh hạ ông Đoàn Công Thắng con cháu hiện sanh cư tại Phiếm Ai, Hòa Duân, Đại Lộc.

4./ Ông Đoàn Công Lâm không có con trai

Để rút gọn theo tôn đồ hiện có xin tóm lượt như sau :

Cháu 4 đời của ông Thỉ trở xuống

Ông Đoàn Công Nghĩa sanh con cháu lại thăng bình.

sanh con cháu lại thăng bình.

-Cháu 5 đời của ông Thỉ trở xuống

Ông Kim Tài Hầu Đoàn Công Luân sanh con cháu lại Tam Kỳ, Núi Thành

Ông Đoàn Công Phương sanh con cháu tại Tây Thành, Nam Bộ.

-Cháu 7 đời của ông Thỉ trở xuống

Ông Đoàn Công Nghĩa sanh con cháu tại Hòa Duân, Đại Nghĩa huyện Đại Lộc.

-Cháu 8 đời của ông Thỉ

Ông Đoàn Công Tuyên sanh con cháu ở Đông Phú, Quế Sơn

-Cháu 9 đời của ông Thỉ

Ông Đoàn Công Đạo sanh con cháu ở Đông Phú, Quế Sơn

-Cháu 11 đời của ông Thỉ

Ông Đoàn Công Mạo sanh con cháu ở Định Quán, Lâm Đồng và Sài Gòn

10.HỌ ĐOÀN VIỆT NAM THỜI KỲ: VUA LÊ - CHÚA TRỊNH (1573-1599) VÀ GIAI ĐOẠN: TRỊNH – NGUYỄN PHÂN TRANH

Đoàn Trạch Quỹ (?- ?)

Cụ là hậu duệ đời thứ 4 của cụ Đoàn Bá Tuân (Quan Trấn thủ Hải Dương). Cụ có 3 người con là: Đoàn Tiến Nhậm, Đoàn Duy Tinh, Đoàn Huệ Hải.

- Đoàn Tiến Nhậm, vào định cư ở làng Vân Chàng và Quang Chiêm thuộc Đức Thọ, Hà Tĩnh.

- Đoàn Huệ Hải, đỗ Cử nhân ra làm quan tri huyện Vĩnh Khang (Nghệ An) vào thời Hậu Lê. Con cụ là Đoàn Viết Yến làm tướng Tiền cẩn sứ của quân Trịnh (thời Trịnh - Nguyễn phân tranh), đến đời cháu nội của cụ là Đoàn Viết Trinh (tức My) thì 1 nhánh chuyển vào định cư ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

- Đoàn Duy Tinh, chuyển vào định cư ở làng Chuồn, xã Phú An, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế - vào thời chúa Nguyễn Hoàng (1600 – 1630)

Cụ Đoàn Duy Tinh có 5 người con, sau này định cư ở các nơi khác nhau:

+ Đoàn Thọ sơn, định cư ở làng Chuồn

+ Đoàn Thọ Sanh và Đoàn Lâm Hoành vào Quảng Nam

+ Đoàn Công Bồ chuyển ra Quảng Bình

+ Đoàn Nhân Phước Định cư ở Thuận Hóa (Huế)

Sau này con cháu của Đoàn Thọ Sơn có

Một nhánh lại chuyển ra làng Gia Đẳng - huyện Triệu Phong - Quảng Trị. Dòng này phát triển mạnh, đời sau có 3 anh em là tướng lĩnh QĐNDVN (Đại tướng Đoàn Khuê, Trung tướng Đoàn Chương và Đại tá Đoàn Thúy).

Một nhánh khác của con cháu Đoàn Thọ Sơn chuyển từ làng Chuồn về xã Lộc An, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Đời sau có Giáo sư Đoàn Trọng Truyến làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, con trai ông là Đoàn Mạnh Giao làm Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ nước CHXHCNVN.

Hậu duệ của cụ Đoàn Duy tinh ở Thừa Thiên Huế có cụ Đoàn Văn Hổ, sinh được 3 người con Đoàn Hữu Trưng, Đoàn Hữu Trực và Đoàn Hữu Ái là những người tổ chức vụ “Giặc chày vôi” nổi tiếng thời vua Tự Đức (1848 -1883). Cả 3 cụ bị giết, nhưng anh em con cháu các cụ phải lánh nạn, chuyển đi nhiều nơi khác nhau.

Nhánh chuyển vào Nam bộ ở Bến Tre, rồi chuyển sang Tiền Giang, Long An. Nhánh này về sau có nhiều người giữ các chức vụ cao trong chính phủ nước CHXHCNVN như ông Đoàn Văn Chất (UVTWĐCVN khóa V,VI,VII làm phó Trưởng ban Kiểm tra TW); Ông Đoàn Văn Xê (Thứ trưởng bộ GTVT); Bà Đoàn Thúy Ba (Anh hùng lao động, Thứ trưởng bộ Y Tế).

Nhánh chuyển vào An Giang, Đồng Tháp thì đổi sang họ Dương. Sau này có Dương Văn Minh “ Đại tướng, Tổng thống” của chế độ VNCH.

Người con trai thứ 4 của Đoàn Duy Tinh là Đoàn Công Bồ chuyển cư ra Quảng Bình phát triển cho đến nay khá đông đúc, nhưng chưa có người làm nên sự nghiệp lớn.

Người con trai út của cụ Đoàn Duy Tinh là Đoàn Nhân Phước có cháu ruột là Đoàn Loan chuyển cư vào xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, rồi từ đây chuyển vào Nam Bộ. Đoàn Văn Thành, là cháu của Đoàn Loan chuyển vào thôn Tân Bình, tổng An Phú Trung, huyện Đông Xuyên, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang. Vào khoảng nă

Vào khoảng năm 1760, khi làm chức Quản cơ hiệu Thân quân (hộ tống nhà vua) đi tháp tùng Nguyễn Ánh sang Xiêm cầu viện binh chống Tây Sơn thì mất. Ông Thành có 9 người con thì chỉ có 2 người con là (Đoàn Văn Khắc và Đoàn Văn Trường) thành đạt làm quan và có chức tước trong triều, còn lại 7 người khác đều làm ruộng.

- Ông Đoàn Văn Khắc là Thủy quân, Vệ úy đời vua Minh Mạng, mất 1840 ở An Giang, không rõ về vợ con.

- Đoàn Văn Trường trải qua nhiều trọng trách đời vua Gia Long như: Tổng đốc, Thượng thư Bộ binh… đến tháng 7/1828 thì ông được điều ra Bắc, để lại vợ và 6 người con ở trong Nam, Sau này ông lấy vợ lẽ ngoài Bắc. Trong 6 người con ở Nam Bộ thì 3 người có chức tước trong triều Nguyễn, đó là Đoàn Văn Sách, Đoàn Văn Học và Đoàn Văn Lộc.

+ Đoàn Văn Học

là Chánh vệ cẩm y đời vua Thiệu Trị (1941-1947), mất ở thôn An Quý, tổng Bình Trị Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Ông Học có 4 con trai nhưng cũng không rõ tông tích về sau.

+ Đoàn Văn Lộc

làm Trấn Tây hậu bổ thời Minh Mạng (vùng này hiện nay là đất Campuchia). Ông Lộc cũng được 4 con cũng không rõ tung tích về sau.

Như vậy kể từ đời ông Đoàn Văn Thành, về sau đã có 28 người con cháu là hậu duệ của cụ Đoàn Bá Tuân ở Hải Dương vào Nghệ An, Thừa Thiên, Quảng Ngãi, rồi vào định cư ở Nam Bộ và sinh ra các thế hệ họ Đoàn ở các vùng này, gồm các tỉnh Tiền Giang, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang (đến nay đã hơn 12 đời con cháu).

Đoàn Doãn Nghi ( 1678-1729):

Ông là Danh sĩ đời Hậu Lê, người xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, là cha đẻ của Đoàn Doãn Luân và nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.

Đoàn Doãn Luân (Trác Luân) (1700-?):

Ông là con trai Đoàn Doãn Nghi, người xã Hiến Phạm,Văn Giang, Hưng Yên, là nhà thơ, nhân sĩ đời Lê Dụ Tông, hiệu là Tuyết An.

Đoàn Thị Điểm 段氏點 (1705-1745):

Bà là người xã Hiến Phạm,Văn Giang, Hưng Yên, là nhà thơ nổi tiếng hiệu Hồng Hà Nữ sĩ, đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Bà là con gái Đoàn Doãn Nghi.

Ðoàn Thị Ðiểm, hiệu Hồng Hà nữ sĩ, con của Ðoàn Doãn Nghi, em danh sĩ Ðoàn Doãn Luân. Tổ quán vốn ở xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc, sau bà và mẹ về ở với anh ở huyện Ðường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là Hải Dương). Năm 16 tuổi, Thượng thư Lê Anh Tuấn muốn xin bà làm con nuôi rồi ngỏ ý muốn tiến bà vào cung chúa Trịnh, nhưng chỉ ở ít lâu bà xin về, cùng với anh cần cù học tập trở nên người sành văn chương.

Khi người anh mất, bà đảm nhận gánh nặng gia đình. Bấy giờ bà đã nhiều tuổi mà vẫn chưa lấy chồng. Nhiều người đến hỏi, trong đó có cả những kẻ quyền quý (như công tử làng Hoạch Trạch là Nhữ Ðình Toản; Thượng thư làng Kim Lũ....), bà đều từ chối. Năm 37 tuổi, bà lập gia đình với Tiến sĩ Nguyễn Kiều, người làng Phú Xá, huyện Từ Liêm. Năm 1748, ông được cử làm Tham thị ở Nghệ An. Ngày cùng chồng lên đường đến nhiệm sở mới, bà bị bệnh nặng rồi mất ở Nghệ An ngày 11/09/1748.

Bà có các tác phẩm nổi tiếng:

- Chinh phụ ngâm (bản dịch)

- Truyền kỳ tân phả (hay Tục truyền kỳ)

Đoàn Lệnh Khương (1726- 1780):

Đoàn Lệnh Khương là nữ sĩ nổi tiếng đời Lê Ý Tông, là con gái lớn của Đoàn Doãn Luân, gọi Đoàn Thị Điểm là cô ruột; Quê xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Năm lên 9 tuổi cha mất, bà nhờ cô nuôi dạy thành tài, lại cũng nhờ ông thúc tổ bên ngoại là Liên Đình hầu Lê Hữu Kiều bảo dưỡng cho, nên cuộc sống cũng yên ổn. Đến tuổi trưởng thành, bà nổi danh tài sắc, nhiều nơi quyền quí cầu hôn, nhưng tình duyên dở dang.

Đến năm bà 31 tuổi, tiếp nhận bức thơ cầu hôn của Đốc đồng Sơn Nam là Nguyễn Xuân Huy, góa vợ, tuổi đã trên 40. Bà ngần ngại, sau cũng chấp thuân lấy ông và sinh được một gái, nhưng mới được hai tuổi thì con mất. Rồi chỉ được non bảy năm sau thì chồng mất (năm Canh Thìn 1760). Từ ấy bà sống cảnh đơn côi góa bụa, lên kinh đô dạy học tại tư gia, được xa gần gọi là Nữ học sư. Đến ngoài 60 tuổi, bà về quê hương nương nhờ em ruột là Đoàn Doãn Y. Năm1780 bà mất, thọ 74 tuổi.

Đoàn Thị Thừa ( Đào Thừa):

Đoàn Thị Thừa sống bên kia sông Gianh, khi đã được mười sáu tuổi tiếng đồn sắc đẹp không thua gì Tây Thi.

Năm 1656, Nguyễn Hữu Dật cùng Nguyễn Hữu Tiến vượt sông Gianh đánh quân Trịnh tan tác, cai quản được bảy huyện Nghệ An. Trong Bảy lần tranh chấp với Đàng Ngoài, cuộc chiến lần thứ năm và lần lớn nhất trong cuộc xung đột Trịnh-Nguyễn. Nguyễn Phúc Tần là vị Chúa chủ động đưa quân đánh ra Bắc, Chúa sai Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật mang quân vượt sông Gianh đánh Bắc, Bố Chính tiến chiếm được bảy huyện Nghệ An được năm năm. Chính trong thời gian này Đoàn Thị Thừa đã gặp gỡ đã đem lòng yêu và có ảnh hưởng nhiều đến Nguyễn Hữu Cảnh, một nhân vật có vai trò rất quan trọng của triều Nguyễn ở xứ Đàng trong.

• Các nhà khoa bảng họ Đoàn xuất hiện trong giai đoạn này gồm:

a/- Các vị đỗ Tiến sĩ Nho học:

1 Đoàn Thế Bạt 1577. HG Ninh Giang, Hải Dương

2 Đoàn Hân 1580. TS Ninh Giang, Hải Dương

3 Đoàn Khắc Thận 1589. HG Nam sách, Hải Dương

4 Đoàn Kim Sơn 1589. TS Tiên Lãng, Hải Phòng

5 Đoàn Tuấn Hòa 1676. TS Thuận Thành, Bắc Ninh

6 Đoàn Quang Dung 1710. TS Gia Lâm, Hà Nội

7 Đoàn Thu 1746. HG Sóc Sơn, Hà Nội

8 Đoàn Nguyên Thục 1752. HG Quỳnh Phụ, Thái Bình

9 Đoàn Nguyên Tuấn TS Quỳnh Phụ, Thái Bình

1- Đoàn Thế Bạt

Văn bia

ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA ĐINH SỬU NIÊN HIỆU HỒNG THUẦN PHÚC NĂM THỨ 16 (1577) ĐỜI MẠC MẬU HỢP

Đoàn Thế Bạt, người xã Phù Nội, huyện Thanh Miện- nay là thôn Phù Nội, xã Hùng Sơn, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. 40 tuổi đỗ Hội Nguyên, 54 tuổi đỗ Đệ Nhị Giáp Tiến sỹ xuất thân, khoa Đinh Sửu, niên Hiệu Hồng Thuần Phúc 16 (1577) đời Mạc Mậu Hợp, sau giúp nhà Lê làm quan đến chức Tham Chính.

2- Đoàn Hân

Văn bia:

ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA CANH THÌN NIÊN HIỆU DIÊN KHÁNH NĂM THỨ 3 (1580) ĐỜI MẠC MẬU HỢP

Đoàn Hân, người xã Phù Nội, xã Hùng Sơn, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. 54 tuổi đỗ Đệ Tam Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn, niên hiệu Diên Khánh 3 (1580), đời Mạc Hậu Hợp, làm quan chức Hiến sát sứ.

3- Đoàn Khắc Thận:

Văn bia:

ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA KỶ SỬU NIÊN HIỆU HỒNG TRỊ NĂM THỨ 2 (1589) ĐỜI MẠC MẬU HỢP

Đoàn Khắc Thận (sinh 1530- ... ), người xã Phụ Vệ, huyện Chí Linh, nay là xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. 60 tuổi đỗ Đệ Nhị Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Hồng Trị 2 (1589) đời Mạc Mậu Hợp, sau giúp nhà Lê, làm quan chức Hiến Giáp sứ.

4- Đoàn Kim Sơn:

Văn bia:

ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA KỶ SỬU NIÊN HIỆU HỒNG TRỊ NĂM THỨ 2 (1589) ĐỜI MẠC MẬU HỢP

Đoàn Kim Sơn, người xã Mỹ Huệ, huyện Tiên Minh, nay là thôn Mỹ Huệ, xã Tiên Thắng, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng. 32 tuổi đỗ Đệ Tam Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Hồng Trị 2( 1589), Đời Mạc Mậu Hợp, làm quan đến chức Giám sát Ngự sử. Nhà Mạc suy, ông không chịu theo nhà Lê, cử binh chống lại.

5- Đoàn Tuấn Hòa 段 俊 和

Người xã Cự Đồng, huyện Siêu Loại, đỗ Đệ tam Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 16 người

Bia số 47 Văn Miếu Quốc tử giám Số TT 18

Văn bia:

ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA BÍNH THÌN NIÊN HIỆU VĨNH TRỊ NĂM THỨ 1 (1676)

Đoàn Tuấn Hòa (1622-?), người xã Cự Đồng, huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), nguyên quán xã Chi Nê, huyện Tiên Du (nay xã thuộc Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Binh, tước Nam. Do quản binh không đúng luật, ông bị truất. Sau ông lại được mời ra làm quan Tự khanh, Đốc trấn Cao Bằng và tước Tử. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Tuấn Hòa.

6- Đoàn Quang Dung (段光容)

Bia số 58 Văn Miếu Quốc tử giám Số TT 18

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA CANH DẦN NIÊN HIỆU VĨNH THỊNH NĂM THỨ 6 (1710)

Đoàn Quang Dung (1681-1741), người xã Phú Thị, huyện Gia Lâm (nay là xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lễ, tước Phụ Quận công và được cử làm Phó sứ (năm 1729) sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo. Có tài liệu ghi ông sau đổi tên là Đoàn Bá Dung.

7- Đoàn Thụ (段 澍)

Bia số 70 Văn Miếu Quốc tử giám Số TT 2

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA BÍNH DẦN NIÊN HIỆU CẢNH HƯNG NĂM THỨ 7 (1746)

Đoàn Thụ (1715-?), người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tả Thị lang, tước Diên Trạch hầu. Có tài liệu ghi ông là Đoàn Chú.

8- Đoàn Nguyên Thục 段 阮 俶

Bia số 72 Văn Miếu Quốc tử giám Số TT 4

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM THÂN NIÊN HIỆU CẢNH HƯNG NĂM THỨ 13 (1752)

Đoàn Nguyễn Thục (1728-1783), người xã Hải An, huyện Quỳnh Côi (nay thuộc xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), nguyên quán xã Đại Hạnh, huyện Văn Giang (nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan như Thống lĩnh Tây đạo, Phó Đô Ngự sử, Đốc thị Nghệ An, tước Bá và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Ông vốn họ Nguyễn, tên cũ là Đoàn Duy Tĩnh.Ông được coi là Danh thần đời Lê Hiển Tông.

9- Đoàn Nguyễn Tuấn:

Người xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, Tỉnh Thái Bình, đỗ Tiến sĩ triều Lê Hiển Tông

Đoàn Nguyễn Tuấn (1750 -...?) có sách chép Đoàn Văn Tuấn, con cụ Đoàn Nguyễn Thục, người xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, Tỉnh Thái Bình. Hiệu là Hải Ông. Ông đỗ Tiến sĩ Triều Lê Hiển Tông. Sau ra làm quan cho nhà Tây Sơn, đến chức Tả thị lang Bộ Lại, tước Hải Phái hầu. Sau chiến thắng Đống Đa của Nguyễn Huệ, ông được cử đi sử nhà Thanh. ông là người văn chương nổi tiếng. Em gái ông là chính thất của Đại thi hào Nguyễn Du. Ông được coi là Văn thần đời Lê Hiến Tông.

b/- Các vị đỗ Võ khoa:

1.Đoàn Bá Sướng: (段伯昶)

Số 149 danh sách 199 vị

Người xã Đồng Quan, huyện Thượng Phúc, nay thuộc huyện Thường Tín, TP. Hà Nội.

Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu, trúng hạng khoa Bính Thân, niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776), đời vua Lê Hiển Tông.. Anh Đoàn Bá Trọng

2. Đoàn Bá Trọng : (段伯 仲)

Số 171 danh sách 199 vị

Người xã Đồng Quan, huyện Thượng Phúc, nay thuộc huyện Thường Tín, TP.Hà Nội.

Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng Tạo sĩ ưu, trúng hạng khoa Tân Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781), đời vua Lê Hiển Tông. Em Đoàn Bá Sướng.

11.HỌ ĐOÀN DƯỚI TRIỀU TÂY SƠN (1778-1793)

Năm 1613, Nguyễn Hoàng ở phía Nam chết. Con là Nguyễn Phúc Nguyên vâng lời cha “dạy bảo nhân dân, luyện tập binh sĩ kháng cự lại họ Trịnh” để “xây dựng cơ nghiệp muôn đời”.

Năm 1627, lấy cớ Nguyễn Phúc Nguyên không chịu nộp thuế, họ Trịnh đem quân vào đánh. Cuộc chiến giữa hai họ bắt đầu từ đó. Đại Việt bị chia cắt thành hai “đàng” lấy sông Gianh làm ranh giới. Đàng Ngoài tính từ bờ Bắc sông Gianh trở ra Bắc, Đàng Trong từ bờ Nam sông Gianh trở vào Nam. Ranh giới này tồn tại suốt gần 300 năm cho đến khi Nguyễn Huệ thống nhất vào năm 1786.

Năm 1771, ở Đàng Trong, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo nông dân khởi nghĩa ở Tây Sơn. Lúc này ở cả hai Đàng chính quyền phong kiến đều đã rất bê tha, suy tàn. Trải qua mấy trăm năm chia cắt, chiến tranh triền miên giữa hai Đàng đã làm cho đất nước điêu tàn, kiệt quệ, nông dân vô cùng đói khổ. Vì thế vô vàn nông dân đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Với khẩu hiệu “ Lấy của nhà giàu chia cho người nghèo”, quân Tây Sơn tiến đến đâu thì dân nghèo ở đấy đều tham gia. Thanh thế của nghĩa quân Tây Sơn lớn lên nhanh chóng. Hầu như đánh đâu thắng đấy. Chẳng mấy chốc chiếm toàn bộ Quy Nhơn, Quảng Ngãi.


Đoàn Đức Hiệp 1775

Người huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên. Buổi đầu làm quan tới chức Cai án, có tiếng là lại viên giỏi. Năm Ất Mùi (1775), theo Thống suất Tống Văn Khôi đánh "giặc" Tây Sơn ở sông Tam Đốc thuộc Bình Hòa, bất lợi. Năm ấy, Duệ Tông vào Nam, khi đến cửa biển Vân Phong, Hiệp đến yết kiến, chúa cho chức Hàn lâm viện, theo vào Gia Định, chuyên làm Khâm sai Tham mưu, thăng Công bộ. Hòa Nghĩa đạo Lý Tài đem quân ép bức ngự giá. Hiệp không theo, bị hại.

Con Hiệp là Luận, đời Minh Mạng (1820-1840) làm quan đến Thống chế doanh Thần cơ.

Năm 1777, Nguyễn Nhạc tự xưng là Tây Sơn vương, đóng ở thành Đồ Bàn (Bình Định), sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đánh thành Gia Định. Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ sau khi đánh lấy được thành, giết chết chúa Nguyễn Phúc Thuần, cắt người trấn thủ xong thì rút về Quy Nhơn. Nguyễn Ánh là cháu của Nguyễn Phúc Khoát (chúa Đàng Trong, trước Nguyễn Phúc Thuần) đem quân chiếm lại thành Gia Định.

Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thái Đức.

Đoàn Phước Tân 1780

Người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, trung hưng sơ đi theo vua, có công đánh dẹp cho chức Cai đội, rồi thăng Cai cơ, lại thăng Vệ uý vệ Tuyển phong hậu ban trực quân Thần sách.

Năm Canh Thân theo đi đánh Quy Nhơn, đóng đồn ở Đất Tích, bị ốm nặng rồi chết, tặng Chưởng cơ, được thờ ở đền Hiển trung tỉnh Phú Yên và đền Hiển trung tỉnh Gia Định. Đ công theo sang Vọng Các, vào bậc thứ 3, cấp phu coi mộ.

Gia Long năm thứ 9, được thờ vào miếu Trung hưng công thần. Con là Giáo được tập ấm Ân kỵ uý, con Giáo là Loan lại được tập ấm hàm.

Năm 1783, quân Tây Sơn đánh chiếm lại thành Gia Định, Nguyễn Ánh thua chạy trốn sang Xiêm (Thái Lan) cầu cứu.

Đoàn Văn Khoa 1783

Đoàn Văn Khoa, người huyện Phước Chính tỉnh Biên Hoà,lúc đầu làm Lưu thủ ở Trấn Biên.

Năm Quý Mão, Tây tặc vào cướp Gia Định, Khoa theo vua sang Vọng Các. Năm Đinh Mùi, về trước Trấn Biên mộ tập quân cũ, cùng với Chưởng cơ Nguyễn Văn Nghĩa hợp quân lại đánh giặc. Năm Mậu Thân lấy lại được Gia Định, Khoa lại làm lưu thủ Trấn Biên, rồi chết.

Năm 1784, quân Xiêm cử Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem 2 vạn thủy quân, 300 chiến thuyền và Chiêu Thùy Biên đem 3 vạn quân bộ cùng Nguyễn Ánh tấn công Gia Định. Đến cuối năm đó thì chiếm được nửa đất Gia Định, Tây Sơn chỉ còn giữ hai thành Gia Định, Mỹ Tho.

Đầu năm 1785, Nguyễn Ánh và quân Xiêm từ Sa Đéc tiến đánh Mỹ Tho. Nguyễn Huệ cho quân mai phục, chặn đánh trên sông Mỹ Tho, đoạn ở Rạch Gầm- Xoài Mút. Quân Xiêm đại bại, chỉ còn vài ngàn bộ binh rút chạy về nước. Tây Sơn truy bắt Nguyễn Ánh nhưng không được. Nguyễn Huệ củng cố ba quân, cử tướng trấn giữ Gia Định rồi rút ra Tây Sơn cùng với Vũ Văn Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh (một tướng Đàng Ngoài không phục Trịnh Khải, bỏ nhà Trịnh theo Tây Sơn) chiếm luôn thành Phú Xuân đang do Đàng Ngoài nắm giữ. Rồi nhân đà thắng lợi giành lại hết các vùng đất của Đàng Trong. Xong, lấy danh nghĩa giúp vua Lê diệt chúa Trịnh, tiến đánh luôn quân Trịnh ở Đàng Ngoài.

Năm 1786, Nguyễn Huệ chiếm được Thăng Long, lật đổ chúa Trịnh, trao lại quyền hành cho vua Lê Hiển Tông. Vua Lê thưởng công cho Nguyễn Huệ bằng cách phong Nguyễn Huệ là Uy Quốc Công, nhường đất Nghệ An cho Tây Sơn. Được vài hôm, Lê Hiển Tông vì bịnh nặng từ trước, qua đời. Vua kế vị là Lê Chiêu Thống. Sau đó, Nguyễn Huệ rút quân về phương Nam để Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại đất Bắc. Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ chia nhau cai quản từ Nghệ An trở vào. Nguyễn Huệ sau khi chinh phục miền Bắc được Nguyễn Nhạc phong làm Bắc Bình Vương, làm chủ từ Nghệ An đến Phú Xuân. Nguyễn Lữ giữ vùng đất phía Nam, Gia Định. Nguyễn Nhạc giữ vùng Quãng Ngãi đến Bình Thuận.

Sau khi Nguyễn Huệ rút đi, miền bắc trở nên rối loạn. Các thế lực của họ Trịnh ra sức khôi phục lại cơ đồ. Lê Chiêu Thống phải dựa vào sức cửa Nguyễn Hữu Chỉnh để chống đỡ. Chỉnh dẹp yên được họ Trịnh, cậy mình có công lớn nên sinh ra lộng quyền, chống lại Tây Sơn, đòi lại đất Nghệ An.

Năm 1787, Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở, Vũ Văn Nhậm ra bắc đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh cùng vua Lê bỏ chạy lên phía Bắc. Dọc đường Chỉnh bị bắt giết, Lê Chiêu Thống thoát sang đất nhà Thanh cầu cứu. Diệt được Chỉnh, Vũ Văn Nhậm lại lộng quyền. Nguyễn Huệ đích thân ra Bắc giết chết Nhậm, đưa Ngô Văn Sở lên thay, tuyển dụng người giỏi, hiền tài để trao quyền hành. Nhà Lê mất từ đây.

Năm 1788, vua Thanh là Càn Long cử Tôn Sĩ Nghị, Sầm Nghi Đống… đem 20 vạn quân cùng Lê Chiêu Thống tiến vào nước ta để “tiêu diệt Tây Sơn, dựng lại nhà Lê”. Ngô Văn Sở bỏ trống Thăng Long rút về xây phòng tuyến ở Tam Điệp một mặt báo tin cho Nguyễn Huệ. Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long quá dễ, cho là Tây Sơn sợ mất mật nên trốn cả, Do vậy, hắn tỏ ra hống hách, coi thường Tây Sơn, cho quân cướp phá hết sức tàn bạo. Lê Chiêu Thống cũng thực hiện việc trả thù, báo oán cũng không kém phần tàn ác, ti tiện.

Nguyễn Huệ nhận được tin cấp báo, ngày 22/12/1788, lập đàn tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung rồi hành quân thần tốc ra Bắc. Qua vùng Nghệ An, Thanh Hóa đều tuyển thêm quân lính. Khi đến phòng tuyến Tam Điệp ngày 15/01/1779 đã có được đại quân hơn 10 vạn người.

Rạng sáng mùng 5 tết Kỷ Dậu, 30/01/1789, sau khi chuẩn bị kỹ càng, vua Quang Trung cho quân tấn cống thành Ngọc Hồi, cùng lúc đó cánh quân khác đánh vào đồn Khương Thượng ở Đống Đa, sát thành Thăng Long. Ở Ngọc Hồi, trước sức tấn công mãnh liệt, mưu trí của quân Tây Sơn, mặc dù chống trả kịch liệt nhưng quân Thanh cũng nhanh chóng để mất thành, chạy tán loạn, nhưng đều bị mai phục chết nhiều vô kể. Ở Đống Đa, quân Tây Sơn do Đô đốc Đông chỉ huy cũng giành thắng lợi lớn. Thây giặc Thanh chất cao như núi. Tướng giặc là Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử, nhiều bộ hạ thân tín tự sát theo, tàn quân chạy hết về Thăng Long. Quân Tây Sơn đuổi theo truy sát vào tận Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị lúc đó còn đang mơ màng trong giấc mộng, giật mình tỉnh giấc thì thấy quanh mình lửa cháy khắp nơi, sáng rực trời. Không kịp đóng yên cương, nhảy lên ngựa chạy trốn. Quân lính tranh nhau cướp đường chạy theo tướng về hướng bắc. Chen lấn xô đẩy qua cầu phao sông Hồng. Cầu chịu không nổi, đứt. Hàng vạn lính bị cuốn trôi theo nước dòng sông. Số chạy thoát đều bị mai phục, chặn đánh tơi bời.

Trưa mùng 5, vua Quang Trung tiến vào Thăng Long giữa tiếng hò reo của ba quân và dân chúng. Chỉ trong vòng một tuần, vua đã từ Phú Xuân hành quân thần tốc đánh tan 20 vạn quân Thanh hùng hậu. Vua tiến hành khôi phục đất nước với nhiều cải cách triệt để giúp đất nước phát triển nhanh chóng. Đến năm 1792, vua Quang Trung mất, con là Quang Toản lên thay.

Đoàn Văn Cát (?- 1799):

Người huyện Bồng Sơn, trấn Bình Định, trước theo giặc làm quan đến chức Đại đô đốc. Năm Mậu Ngọ (1798), giặc Tây Sơn Nguyễn Quang Toản sai người hầu đến bức giặc Nhạc chết mà chiếm giữ lấy thành. Con Nhạc là Bảo mưu đánh úp lấy lại, sai Cát giữ Phú Yên, rồi dâng ngay biểu đến Gia Định xin quân cứu viện. Quân chưa đến, giặc bắt Bảo giết đi. Cát chạy đến Diên Khánh đầu hàng, lại cho chức Đại đô đốc coi quản chi Hiển võ theo quân đi đánh giặc.

Hoàng Công Thành, Nguyễn Văn Phát đều là người ở Phù Cát. Thành trước theo giặc làm Đô đốc, Phát theo giặc làm Chỉ huy, năm Quý Sửu (1793) đều vào Gia Định đầu hàng từng theo đi đánh dẹp có công. Thành từng làm quan đến Thần sách doanh Uy vũ Vệ uý, Phát làm đến Thuộc nội Vệ uý.

Năm Kỷ Mùi (1799), đại binh đánh hạ được thành Quy Nhơn, tuyển quân ba huyện lập năm đồn ngự lâm quân, cho Cát làm Đô thống chế tiền đồn, Thành làm Đô thống chế trung đồn, Phát làm Đô thống chế hậu đồn, đều đem quân theo Chưởng hậu quân Võ Tánh giữ thành Bình Định. Tướng giặc là Trần Quang Diệu đem trọng binh đến vây, bọn Cát theo Tánh hết sức chống giữ gần hơn một năm rồi đều bị ốm chết ở trong thành bị vây. Gia Long sơ đều truy tặng Chưởng cơ được thờ vào hai đền Hiển trung, Chiêu trung.

Võ tướng Đoàn Văn Cát thời Tây Sơn, dày công giúp anh em Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ gây dựng đại nghiệp, ông được anh em Tây Sơn trọng vọng, trao cho chức Đô đốc.

Năm Mậu Ngọ 1798, Nguyễn Bảo (con Nguyễn Nhạc) không tuân phục triều đình Phú Xuân, hùng cứ Quy Nhơn, sai ông và Nguyễn Văn Thiệu đi trấn giữ Phú Yên. Ông thấy tình thế Tây Sơn đã rối về nội bộ, nên chẳng làm gì được, từ đấy u uất, sinh bệnh mà mất.

Đoàn Tấn Chí (tức Sĩ)

Dòng con cháu của Đoàn Loan ở lại Bình Sơn - Quảng Ngãi, sau này có Đoàn Tấn Chí (tức Sĩ) đã cùng với Đại Đô đốc Trần Quang Diệu, theo Tây Sơn - Nguyễn Huệ từ ngày đầu khởi nghĩa (1773), có công lớn tham gia đánh các trận chiếm Phú Xuân, Rạch Gầm- Xoài Mút (1784), tham gia trận đánh tan 20 vạn quân Thanh ở Thăng Long mùng 5 tết Kỷ Dậu (1789). Khi ông mất, mộ được táng tại Bình Sơn quảng Ngãi.

Năm 1793, Nguyễn Ánh từ Gia Định đem quân đánh tới tận thành Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc. (Nguyễn Ánh sau khi thất bại cùng với quân Xiêm, sống lưu vong nhiều năm, tới 1797 đã quay về chiêu mộ được nhiều binh lính, có cả một số người Pháp do linh mục Bá Đa Lộc đưa tới, giúp sức, tái chiếm được thành Gia Định từ 1788 khi Quang Trung đang chuẩn bị đánh quân Thanh, Nguyễn Lữ chạy về Quy Nhơn). Nguyễn Nhạc bị vây khốn phải cầu cứu Quang Toản. Quang Toản sai tướng đem quân giải vây xong thì có ý muốn chiếm luôn. Nguyễn Nhạc vì thế uất ức mà chết. Nguyễn Ánh rút nhưng từ đó thường đem quân đánh phá. Hai bên giành nhau thành Quy Nhơn mấy lần.

Sau khi Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc chết, nhà Tây Sơn do Quang Toản lãnh đạo. Nhưng vua còn non nớt nên bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên lộng quyền gây nên nhiều mẫu thuẫn nội bộ. Các tướng tự đánh giết lẫn nhau. Triều đình suy yếu. Trong khi đó Nguyễn Ánh đựơc sự giúp sức của người Pháp ngày một mạnh lên.

Đoàn Cảnh Cư ( ?? 1795)

Người huyện Kiến Đăng, tỉnh Vĩnh Tường, lúc đầu theo sang Vọng Các, đến lúc về Gia Định, từng theo đánh dẹp, vì có công bổ làm Tả quân cai cơ, thăng Phó trưởng chi, lại thăng Chánh trưởng chi ở Tả chi, chuyển làm Vệ uý Tuyển phong hậu ban trực.

Năm Ất Mão theo vua đi cứu viện thành Diên Khánh, Cư đem quân từ núi Lão Lãnh sang qua sông đánh giặc ở núi Thị Nghè, bị chết trận, tặng Chưởng cơ, được thờ ở đền Tinh trung, định công theo sang Vọng Các, vào bậc thứ 3, cấp cho phu coi mộ, lại được thờ ở miếu Trung hưng công thần. Con là Thạc được ấm Phi kỵ uý.

Đoàn Trọng Viễn ( ?? 1790 )

Người huyện Bình Dương, trấn Gia Định. Buổi dầu theo nguỵ làm Tham mưu. Năm Canh Tuất về quy thuận, thuộc theo các vệ ở trung quân giúp đỡ việc quân, rồi bổ làm Hàn lâm chế cáo, trải làm đến Hữu tham tri bộ Lại, kiêm Phó đốc học ở Quốc Tử giám.

Canh tuất, năm thứ 11 [1790], mùa thu, tháng 7, Lê Văn Quân cùng Nguyễn Văn Thành giữ thành Phan Rí, giặc đem hết quân để vây. Quân dâng biểu xin thêm quân.

Tham mưu Đoàn Trọng Viễn, Ký lục Lê Văn Quý, Cai bạ Nguyễn Đức Chí đều là hàng thần được chia thuộc vào các vệ Trung quân, khiến giúp đỡ việc quân.

Năm 1801, lợi dụng hai tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng của Tây Sơn đang đánh để giành lại thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh đánh úp Phú Xuân, lấy được thành, vua Quang Toản chạy ra bắc. Hai tướng Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng sau khi chiếm đựơc Quy Nhơn, hay tin ấy quyết định bỏ thành, mượn đường Ai Lao tính ra Bắc hội quân với Quang Toản. Dọc đường thì bị quân Nguyễn Ánh truy sát, bắt giết. Vua Quang Toản và các tướng còn lại cũng không chống được. Cuối cùng đều bị bắt giết. Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn rất dã man. Nhà Nguyễn Tây Sơn hoàn toàn bị diệt

12.HỌ ĐOÀN VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN THỜI KỲ ĐỘC LẬP (1802-1883) VÀ GIAI ĐOẠN: ĐẤT NƯỚC BẮT ĐẦU BỊ THỰC DÂN PHÁP ĐÔ HỘ

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long, đặt tên nước là Việt Nam, mở ra triều đại nhà Nguyễn kéo dài cho tới năm 1945 qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức…

Tuy nhiên từ 1858 đến 1945, Việt Nam bị thực dân Pháp Xâm lược. Thực dân Pháp ra sức bóc lột tài nguyên, nhân, vật lực của Việt Nam, dìm các cuộc khởi nghĩa của nông dân, một số danh sĩ yêu nước trong biển máu. Các vị vua cuối triều Nguyễn không có quyền quyết định các quốc sách. Họ chỉ là những vị vua bù nhìn, chỉ biết lo cho thân phận mình được yên ổn. Họ đã bất lực đầu hàng Pháp, không giúp gì được cho đất nước lại còn bóc lột dân chúng bằng lắm thứ tô thuế… nặng nề để phục vụ cho cuộc sống xa hoa của họ.

Đoàn Văn Phú (?-?)

Ông là dòng dõi con cháu cụ Đoàn Bá Tuân ở Thừa Thiên Huế, định cư ở làng Sơn Tùng, huyện Quảng Điền. Đoàn Văn Phú từng giữ chức vụ “Thượng thư Bộ binh, Hiệp biện Đại học sĩ” triều Minh Mạng. Hậu duệ của ông Phú sau này có ông Đoàn Quang Đáng là UVBCH ĐCVN khóa III,IV,V, Phó bí thư TW cục Miền Nam (1962-1967), mất năm 1997.

Đoàn Thọ (?-1871)

(là võ quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam).

Thọ lúc trước đăng tên vào sách Anh Danh, theo việc quân có công, Thiệu Trị năm thứ 3, làm Hậu Bảo hiệp quản rồi thăng Trung Bảo Vệ úy. Trước kia, Tổng đốc Định Biên là Vũ Văn Giải đi Trấn Tây trù liệu việc biên cương, vua cho rằng Thọ là con nhà tướng, chuẩn cho đi theo, bảo rằng : hễ có khuyết chánh Phó Lãnh binh hoặc Quản vệ, thì chuẩn cho bổ thụ. Kịp khi việc ở Trấn Tây đã yên, đổi bổ làm Phó Vệ úy vệ Hùng Nhuệ Tự Đức năm thứ 7, thăng Chưởng vệ. Năm thứ 9 kỳ đại kế xét công, vua thấy Thọ là người mạnh khỏe được việc chuẩn cho thăng Thự Thống chế doanh Kỳ Vũ. Năm thứ 10, quyền chưởng Trung quân. Năm thứ 11, thuyền Tây Dương hãm thành An Hải và thành Điện Hải (thuộc cửa biển Đà Nẵng tỉnh Quảng Nam). Vua sai mang tờ dụ đi tuyên bảo úy lạo khuyến khích tướng sĩ, đặt đồn, đắp lũy, và xét rõ hình thể tình trạng, có chỗ nào chưa hợp, thì bàn chỉnh đốn sửa sang thêm.

Năm thứ 14, bổ làm Trung quân Đô thống, sung Phòng hộ sứ cửa biển Thuận An. Năm thứ 16, Thự Đô thống phủ Chưởng phủ sự sung quản lĩnh Thị vệ đại thần. Có 2 sứ giả nước Y Pha Nho và Phú Lãng Sa đến Kinh, vua sai Thọ cùng Trần Tiễn Thành đều sung việc tiếp đãi yến tiệc, thương thuyết các việc, sau vì thương thuyết không có công trạng gì phải giáng lưu rồi kiêm Chưởng Tả quân. Năm thứ 19, kỳ đại kế, vua cho là Thọ ở vệ đã lâu ngày, một lòng siêng năng cẩn thận, cho Thự Trung quân Đô thống phủ Đô thống Chưởng phủ sự.

Năm thứ 21, giặc nước Thanh là bọn Ngô Côn đánh hãm tỉnh Cao Bằng, quan quân đánh không lại (Tham tán Nguyễn Lệ chết, Thống đốc Phạm Chí Hương bắt), Tham tán là Ông Ích Khiêm xin phái thêm lính và voi. Vua sai Thọ sung chức Bình Khấu tướng quân, đem đại đội binh tượng chia làm ba đạo, đều do Thọ chỉ huy, tùy tiện làm việc. Khi đến chỗ quân thứ, cùng với Thảo nghịch tướng quân là Nguyễn Hiên tâu nói, tình thế ngoài biên, đánh giết và vỗ yên, hai đằng đều khó, cân nhắc nặng nhẹ ở trong hai điều khó, thì vỗ yên là khó, mà chung quy không thể làm được; không bằng đánh giết là khó, mà còn có thể làm được. Xin lấy một đạo Lạng, Bằng làm chính binh, chuyên về tiến đánh. Hai đạo Thái, Tuyên làm kỳ binh, nghiêm đi ngăn chặn.

Năm thứ 22, Lãnh binh quân thứ Thái Nguyên là Nguyễn Tri Thiện, Đặng Văn Đạo bị thua ở đồn Sơn Đầu, Thọ đổi sung Tổng thống đạo Thái, thu thập binh dõng để đánh.

Vua dụ rằng : Lý Quang Bật thay Quách Tử Nghi mà hiệu lệnh đổi mới, tướng sĩ theo lệnh, đời cổ là người nào, đời nay cũng là người nào, phải đều cố gắng đấy.

Vua lại nghĩ, các quân ở Bắc Kỳ tự ngăn chặn, tự ủng hộ, bèn hợp Ninh, Thái làm một đạo, sai Thọ thống lĩnh cả.

Khi ấy toán phỉ vây sát phủ hạt Phú Bình (thuộc tỉnh Thái Nguyên), Thọ sai Tham tán Lê Bá Thận, Đề đốc Nguyễn Mỹ và Tán tương Lê Thuyết (nguyên họ Tôn Thất nay đổi theo họ mẹ) đem biền binh đánh phá, đánh được luôn mấy hôm. Việc đến tai vua, vua bảo rằng : trận đánh này rất là đắc lực vì Thọ trù tính sai phái được đúng, đặc biệt khen ngợi.

Năm thứ 23, tên giặc đầu hàng ở Lạng Sơn là Tô Tứ cùng Tăn Á Dã hợp bọn để làm phản. Đặng Vãn, Hoàng Anh các bọn giặc lại nổi lên, vua chuẩn cho hợp Lạng Sơn, Bắc Ninh làm một nơi quân thứ, cho Thọ làm Tổng thống Bắc Kỳ quân vụ. Tháng 10 năm ấy, bọn giặc họ Tô, đem đánh úp Lạng Sơn, giết lãnh binh là Lê Văn Dã, Trọng Bình, Văn Tng, Đặng Toán vượt qua thành chạy, Thọ lên thành đốc quân tàn hơn 10 người, chống đánh, không địch được bị chết.

Việc đến tai vua, vua thương lắm, nói rằng : không bắt giữ cho đại thần được an toàn là lỗi của trẫm.

Kịp sau thành thất thủ, án đã thành, vua cho là Đoàn Thọ thân làm chủ tướng, lỗi về sơ phòng để biến sinh ra lúc thảng thất, tội văn khó chối được. Nhưng đương lúc bọn giặc ấy đánh úp, lại hay đem quân liều chết chống đánh, tiết liệt thực đáng khen, chuẩn cho giáng làm Trung quân Đô thống, chiểu hàm cấp tiền tuất, cho thêm 100 quan tiền cấp cho người nhà; lập đền để thờ.

Thọ không có con, lấy Văn Diệu là con Văn Lộc - người em của Thọ làm con thừa tự, xét ra Diệu là người có học, ấm thụ cho Hàn Lâm viện Biên tu.

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện không cho biết quê quán của Đoàn Thọ, nhưng theo gia phả họ Đoàn, thì quê quán của Trung quân Đoàn Thọ ở thôn Phú Mỹ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Trước, ông tên là Đoàn Của, sau đổi thành Đoàn Thọ, Thuở trai trẻ, ông theo học trường đào tạo võ chức Anh Danh. Năm Thiệu Trị thứ hai (1842), làm chức Hiệp quản, theo xa giá vua ra Bắc tiếp sứ ThoonH, được thưởng một đồng ngân tiền loại lớn, sau thăng thụ Phó vệ úy Trung Bảo Nhị Vệ thuộc Trung quân.

Năm Thiệu Trị thứ sáu (1846), tháng 5: thăng Phó vệ úy Hàm Phấn Dũng tướng quân Năm Thiệu Trị thứ bảy (1847), tháng 3: đổi bộ Phó vệ úy Hậu Vệ Doanh Hùng Nhuệ. Bắt đầu đổi tên là Đoàn Thọ, bổ thự Hữu Chấp Kim Ngô Vệ Kim Ngô. Năm Tự Đức thứ hai (1849), tháng1: Phong Anh Dũng tướng quân, giữ chức Hữu Chấp Kim Ngô ở Kim Ngô tượng ti. Sau thăng Thư chưởng vệ coi viện Thượng Tứ, sắp đặt thị vệ kiêm coi các thự, viện, đội Hòa Thanh, Thượng Thiện, Vũ Bị. Năm Tự Đức thứ hai (1846), tháng 1:

Đặc thụ Hùng Uy tướng Quân, coi giữ ấn triện doanh Kì Vũ, vẫn quản các việc như trước, sau thăng Thự thống chế, coi giữ ấn triện Trung Quân, sung quản lãnh Thị vệ đại thần, kiêm coi viện Vũ Bị.

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện không cho biết quê quán của Đoàn Thọ, nhưng theo gia phả họ Đoàn, thì quê quán của Trung quân Đoàn Thọ ở thôn Phú Mỹ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Trước, ông tên là Đoàn Của, sau đổi thành Đoàn Thọ,

Thuở trai trẻ, ông theo học trường đào tạo võ chức Anh Danh.

Năm Thiệu Trị thứ hai (1842), làm chức Hiệp quản, theo xa giá vua ra Bắc tiếp sứ ThoonH, được thưởng một đồng ngân tiền loại lớn, sau thăng thụ Phó vệ úy Trung Bảo Nhị Vệ thuộc Trung quân.

Năm Thiệu Trị thứ sáu (1846), tháng 5: thăng Phó vệ úy Hàm Phấn Dũng tướng quân

Năm Thiệu Trị thứ bảy (1847), tháng 3: đổi bộ Phó vệ úy Hậu Vệ Doanh Hùng Nhuệ. Bắt đầu đổi tên là Đoàn Thọ, bổ thự Hữu Chấp Kim Ngô Vệ Kim Ngô.

Năm Tự Đức thứ hai (1849), tháng1: Phong Anh Dũng tướng quân, giữ chức Hữu Chấp Kim Ngô ở Kim Ngô tượng ti. Sau thăng Thư chưởng vệ coi viện Thượng Tứ, sắp đặt thị vệ kiêm coi các thự, viện, đội Hòa Thanh, Thượng Thiện, Vũ Bị.

Năm Tự Đức thứ hai (1846), tháng 1: Đặc thụ Hùng Uy tướng Quân, coi giữ ấn triện doanh Kì Vũ, vẫn quản các việc như trước, sau thăng Thự thống chế, coi giữ ấn triện Trung Quân, sung quản lãnh Thị vệ đại thần, kiêm coi viện Vũ Bị.

Năm Tự Đức thứ mười một (1858), tháng1: Đặc thụ Nghiêm Uy tướng quân, Trung quân Đô Thống, vẫn giữ chức vụ như trước.

Tháng 8 năm 1858, tàu quân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, vua Tự Đức sai ông mang tờ dụ đi khuyến khích tướng sĩ và xem xét tình thế để đề xuất việc ứng phó.

Năm 1861, ông được bổ làm Trung quân Đô thống, sung Phòng hộ sứ cửa biển Thuận An (Huế). Hai năm sau, ông làm thự Đô thống phủ Chưởng phủ sự sung quản lĩnh Thị vệ đại thần. Cũng trong năm này, có hai sứ giả nước Tây Ban Nha và Pháp đến Huế, vua sai Trần Tiến Thành và ông đón tiếp và thương thuyết việc nước nhưng không thành công, ông bị giáng lưu.

Năm 1864, xét thấy ông siêng năng, làm việc chu đáo, vua Tự Đức lại cho làm thự Trung quân Đô thống phủ Đô thống, Chưởng phủ sự. Lúc bấy giờ, dư đảng Thái Bình Thiên Quốc chống nhà Thanh bên Trung Quốc của Hồng Tú Toàn là Ngô Côn chạy sang Việt Nam, trước xin hàng, sau đem tàn quân cướp phá các tỉnh phía Bắc Việt Nam.

Cuối năm 1870, Ngô Côn xua quân vây đánh tỉnh thành Bắc Ninh, quân của Ông Ích Khiêm liền đem quân chống trả, diệt được Ngô Côn. Thuộc hạ của Ngô Côn là Hoàng Sùng Anh (hiệu Cờ Vàng), Lưu Vĩnh Phúc (hiệu Cờ Đen), Bàn Văn Nhị-Lương Văn Lợi (hiệu Cờ Trắng), vẫn cứ quấy phá ở Tuyên Quang, Thái Nguyên. Triều đình bèn sai Trung quân Đoàn Thọ sung chức Bình khấu tướng quân, đem đại đội binh tượng chia làm ba đạo tiến ra đất Bắc.

Đoàn Thọ vừa mới ra, kéo quân lên đóng ở tỉnh thành Lạng Sơn, bị "bọn giặc khách" (gọi theo sử Nguyễn) là Tô Tứ cùng Tăng Á Dã hiệp quân nổi dậy. Vua Tự Đức bèn chuẩn cho Đoàn Thọ làm Tổng thống Bắc Kỳ quân vụ.

Tháng 10 năm Tân Mùi (1871), lúc nửa đêm, Tô Tứ bất ngờ kéo lực lượng đến đánh úp thành Lạng Sơn, giết chết Lãnh binh là Lê Văn Dã. Hốt hoảng các võ quan là Võ Trọng Bình, Đặng Toán, Văn Tường và đều bỏ chạy cả.

Chỉ mỗi mình Ðoàn Thọ lên thành đốc tàn quân hơn 10 người cố đánh, nhưng vì thế cô, ông tự dùng tay móc lưỡi để tuẫn tiết.

Năm Ất Hợi, Tự Đức thứ 28 (1875), tháng 3: Chuẩn cho được thờ ở đền Trung Nghĩa, Đống Đa, Hà Nội.

Đoàn Đình Niêu (Cửu Lãm)

Sinh năm 1840 mất năm 1913 là Đình nguyên, Thám hoa khoa Nhã sĩ năm Ất Sửu (1865) đời vua Tự Đức, làm đến Cửu Phẩm tại Bộ, Phó chủ khảo trường Hội khoa Đinh Sửu. Cần lưu ý là trong kỳ thi Đình năm 1865 không có ai là Trạng Nguyên hay Bảng Nhãn. Do đó tuy là Thám hoa nhưng lại là người đỗ đầu trong khoa thi năm đó. Ông là người làng Phú Trạch, xã Phú Diên, huyện Quế Sơn, nay xã Quế Xuân, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Đoàn Văn Trường 1828

Danh thần Đoàn Văn Trường, đời Gia Long, không rõ năm sinh, năm mất, quê huyện Đông Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).

Ông có võ nghệ cao cường, theo Nguyễn Ánh, lãnh chức Khâm sai Cai cơ, ông cùng tổng nhung Nguyễn Khoa Thuyên và tiên phong Nguyễn Văn Thành lập nhiều công trạng trong cuộc chiến với Tây Sơn.

Sang đời Minh Mạng, năm Tân Mão (1831), ông làm Tổng đốc Trị Bình, năm sau đổi làm Tổng đốc Thanh Hoá, rồi thăng Thự Tả quân Đô thống Chưởng phủ sự, nhưng lãnh Tổng đốc Hà Ninh, gia hàm Thái tử Thiếu Bảo.

Khi mất, được truy tặng Đô thống chế.

Đoàn Văn Trường trải qua nhiều trọng trách đời vua Gia Long như: Tổng đốc, Thượng thư Bộ binh… đến tháng 7/1828 thì ông được điều ra Bắc, để lại vợ và 6 người con ở trong Nam, Sau này ông lấy vợ lẽ ngoài Bắc. Trong 6 người con ở Nam Bộ thì 3 người có chức tước trong triều Nguyễn, đó là Đoàn Văn Sách, Đoàn Văn Học và Đoàn Văn Lộc.

Người huyện Đông Xuyên tỉnh An Giang. Chưa rõ tổ tiên thế nào. Gia Long năm Đinh Tị (1787) đem lòng thành quy thuận. Năm Mậu Thân nhấc lên bổ Cai đội Tuyển Phong doanh Thần Sách. Năm Tân Dậu bổ Phó Vệ úy trực sai Hữu vệ Năm thứ 1 (1802) thăng Khâm sai thuộc nội cai cơ rồi thăng Vệ úy vệ Toàn Vũ nội doanh. Năm thứ 17, sung chức Quản phủ Diễn Châu, quản suất đồn Tiên Lý. Minh Mạng năm thứ 1 (1820), thăng thụ Vệ úy Thị trung thuộc nội. Năm thứ 6, thăng Đề đốc Kinh thành, kiêm quản vệ Giám Thành. Năm thứ 7, chuyển làm Đô thống chế Trung doanh quân Thần Sách. Năm thứ 8, vua đi tuần vào miền Nam, sung làm Tiền bộ Hỗ tụng. Khi ấy nước Vạn Tượng bị nước Xiêm xâm lấn, xin viện trợ, vua cho Văn Trường sung chức Bang tá quân vụ, kinh lược đất biên giới trấn Nghệ An. Việc đã yên, triệu về, thưởng gia quân công một cấp. Năm thứ 9, ra trấn thủ Nghệ An, rồi lại triệu về làm chức cũ. Năm thứ 11, kiêm quản Tào Chính. Năm thứ 12, thăng Thống chế Hữu doanh. Năm ấy, bọn ác Man ở tỉnh Quảng Nam quấy nhiễu, vua xuống chiếu cho Văn Trường đem đại binh đi đánh bắt; quân đến nguyên Chiêu Đàn (thuộc tỉnh Quảng Nam tiếp giáp xứ Man) dâng sớ nói sách Man Tà Vinh cùng các sách người Man ở Tu Nặc giúp nhau làm ác đã lâu, chống cự quan quân, xin trước hết diệt Man Tà Vinh, thứ kịp Man Tu Nặc để tuyệt mầm mống ác. Vua cho là phải. Nhân đóng quân lại ở bản Vân Thủy (thuộc cõi Man), chia quân ra làm ba đạo đánh phá các sách Tu Nặc, Tu Trang, Mô Ô, cho quân đi tìm bắt, đốt những kho chứa, lại đem quân đuổi đánh Mường Tra, trước sau đi qua 17 sách quét sạch hết cả các sào huyệt của giặc.

Sớ dâng lên, vua ra lệnh cho đem quân về Quảng Nam, đều cho ăn yến một lấn, gia cấp kỷ lục một thứ, thăng làm Tổng đốc Bình Trị, rồi đổi đi Thanh Hóa.

Phần biển tỉnh hạt ấy, thường năm giặc biển lẻn lút phát ra, quan quân đi tuần biển thường phải tội vì không có công trạng. Văn Trường mưu với Bố chính Nguyễn Đăng Giai dâng sớ nói binh thuyền đi tuần tiễu có ba điều không tiện, xin phái thêm thuyền ở Kinh hợp với thuyền miễn dịch chỉnh bị biền binh, thủy thủ, đồ phát hỏa, súng nhỏ, súng lớn chứa sẵn; về đồ mặc của thuyền phu thì giả trang làm thuyền đánh cá, thuyền đi buôn, đi lại ở ngoài đảo, hễ gặp thuyền giặc thì một mặt hội đánh, một mặt phát hiện thông báo về đồn sở và thuyền đi tuần tiễn đến tiếp ứng, cho yên giặc biển. Vua phê bảo rằng các việc đã trình bày, rất đúng công việc nên làm. Đoàn Văn Trường, ngươi là người có kiến thức khá, rất đáng khen ngợi. Năm ấy triệu về, đổi đi làm Tổng đốc Bình Phú.

Vua cho rằng Văn Trường coi quân đã lâu năm, vẫn tỏ ra có công lao, tấn phong là Diên Hựu Tử. Năm thứ 14, triệu về. Gặp khi các tỉnh Sơn, Hưng, Tuyên ở Bắc Kỳ cùng Thanh Hóa, Ninh Bình, có bọn đầu sỏ giặc là Lê Duy Lương, Quách Tất Công quấy nhiễu, vua sai Văn Trường đi ngựa trạm đến tỉnh Thanh Hóa quản lĩnh các đạo binh ở Kinh phái ra Nghệ An và các tỉnh để đóng giữ, chuẩn cho con là Văn Thọ lệ thuộc đi theo. Dụ rằng : ngươi hãy đi, không đến vài tháng sẽ có chỉ. Vả, triều đình mới định phong tước cho ấp, để đãi người có công, nên kính siêng chức nghiệp, để chịu tước lộc lâu dài, chớ nên cẩu thả cho xong việc. Rồi Tổng đốc Hà Ninh, thăng Đô thống, Thự Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự.

Năm thứ 16, ốm chết. Vua dụ rằng : Đoàn Văn Trường theo làm việc đã lâu ngày, vẫn tỏ ra siêng năng khó nhọc, chuẩn cho thực thụ những chức hàm đã thự khi trước, cho thêm gấm lụa và tiền. Tự Đức năm thứ 10, đưa vào thờ ở đền Hiền Lương. Con là Sách và Thọ đều là danh tướng, có truyện riêng.

Đoàn Văn Sách (?- 1842)

Đoàn Văn Sách làm Đề đốc Vĩnh Long, đời vua Minh Mạng, bị bệnh mất 29/4/1842, có 6 con Trai nhưng đến nay không rõ tung tích.

Trước đây, tên Dun trú ở Long Úc, nghe tin quan quân Trấn Tây rút về An Giang, báo cho đầu mục Xiêm là Chất Tri cùng nhau chuyển đến trú ở Trấn Tây, rồi chia quân đi các xứ cướp bóc, phần nhiều bị quan quân đánh phá, gởi thư về cho Quốc trưởng của giặc xin thêm quân viện trợ. Năm thứ 2 mùa xuân, bọn Man phỉ liên kết với giặc Xiêm, phái thêm rất nhiều viện binh, quân thuỷ bộ cả nước chia đường vào cướp, tướng của giặc ở đường thuỷ tên là Ô Thiệt, quản suất binh thuyền hướng vào cửa biển Hà Tiên mà bắn. Giặc ở đường bộ liên kết với bọn thổ phỉ, từ Chu Nham đến núi Lộc Giác, thiết lập đồn sách, ba mặt súng lớn giao nhau bắn ra, ngoài đài luỹ, tên đạn rơi xuống như mưa...Tỉnh Hà Tiên báo tin nguy cấp. Vua lập tức sai bọn Đoàn Văn Sách mang quân ngăn chống, đốc thúc binh thuyền đi tắt ngoài biển thuộc địa phận Hà Tiên để viện trợ đánh giết. Lại sai Phạm Văn Điển, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Công Nhàn chia đường tiến đánh. Cho Lê Văn Đức làm Tổng thống tiễu bộ quân vụ, Lê Văn Phú làm Tham tán đại thần, quản lĩnh binh thuyền đi mau đến đánh giết. Đại binh chưa đến, Đoàn Văn Sách đóng giữ đài Kim Dữ. Tuần phủ Hà Tiên là Lương Văn Liễu giữ luỹ đều thân đốc biền binh ngày đêm luôn luôn phát súng lớn chống đánh. Thuyền giặc lui trước, bọn Chất Tri chưa biết, cùng nhau đem quân Xiêm, quân giặc liên kết với nhau, lập đồn luỹ ở sông Vĩnh Tế để chống cự, lại đến đồn bảo quân ta đi lại quấy nhiễu. Bọn Phạm Văn Điển, Nguyễn Công Nhàn chia đường tiến đánh, giết hại rất nhiều, đốt phá hết trại sách của giặc.

Con gái thứ 11 của Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế, em cùng mẹ với Nghi Hòa Quận công Miền Thân, sinh năm Minh Mạng thứ 2. Năm Thiệu Trị thứ 5, gả cho Phò mã Đô úy Đoàn Văn Tuyển, người ở Đông Xuyên, An Giang, con trai của Tiền phong dinh Đô thống Đoàn Văn Sách.

Con gái thứ 15 của Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế, mẹ là Mỹ nhân họ Đoàn, người ở Phú Vinh - Thừa Thiên, con gái của Đức Nghi, Cẩm y Hiệu úy. Sinh năm Minh Mạng thứ 4.

Là dòng dõi tướng thần, đăng vào sách Anh Danh. Minh Mạng năm thứ 8 (1827), bổ làm Suất đội tam quân Thần Sách. Năm thứ 11, ấm thụ hàm Quản cơ. Năm thứ 15, thăng Phó Quản cơ. Năm thứ 15, Thự Phó Vệ úy vệ Cự Dũng chuẩn cho đi đến quân thứ Gia Định làm việc bắt giặc. Năm thứ 16, vì có chiến công được thực thụ Phó Vệ úy. Năm thứ 18, đổi đi Phó Lãnh binh tỉnh Hưng Hóa, tập phong là Diên Hựu Nam rồi đổi đi làm Phó Lãnh binh phủ Hải Đông ở Trấn Tây. Năm thứ 19, đánh phá được giặc Xiêm, bắt chém rất nhiều, thưởng quân công kỷ lục và kim tiền, ngân tiền. Năm thứ 21, đóng ở bảo Chi Trinh, Phó Lãnh binh là Nguyễn Công Nhàn bị giặc vây chặt, Văn Sách đem quân ứng tiếp, bị ngăn trở không thể tiến lên được, mới chọn trích biền binh hơn 300 người do đường thủy cỡi thuyền chiến thân đốc quân đến thẳng xứ Tam Kỳ, đánh phá đồn giặc, bèn sai binh hai chi lên bờ trước, mà Văn Sách thì theo lòng sông chính chặt phá cọc ván, hướng về phía trước tiến lên đánh sát với giặc, chém hơn 3ủ cấp giặc cắt lấy tai. Giặc bỏ đồn chạy. Nguyễn Công Nhàn thấy có quân cứu viện, mở cửa đánh giáp vào, giặc tan vỡ cả. Chém được 5 thủ cấp, cắt lấy tai, đốt hết trại sách, mới giải được vậy. Vua rất khen, thưởng thụ Vệ úy, lại thưởng dao vàng, nhẫn vàng, gia quân công một cấp.

Văn Sách bèn cùng Công Nhàn bàn nhau cho là chỗ ấy nguy bức, không tiện ở lại, bèn về bảo Sa Tôn đắp thêm lũy đất để phòng bị. Sách nhân có bệnh nên trở về Hải Đông, Công Nhàn vẫn ở lại đấy. Mùa đông năm ấy, người Xiêm họp đông quân vây sát bảo Sa Tôn, sự thế nguy cấp, tướng quân Trương Minh Giảng thường ủy Văn Sách đem đại đội binh và dõng đến cứu viện. Văn Sách đem quân đến đánh rất dữ, lấy được 14 đồn của giặc, chém 190 thủ cấp giặc, cắt lấy tai, bắn chết hơn 400 tên, thu được súng lớn và khí giới rất nhiều. Lại phái Quản cơ Hoàng Văn Quang dỡ lấy đồn của giặc, sửa thêm đồn lũy, vừa thấy bọn giặc ngầm lẩn nấp, Quang tức thì đem quân đuổi theo. Sách nghe thấy, cùng với em là Đoàn Văn Lộc đến ngay ứng tiếp, vừa đến chỗ rừng rậm, giặc bốn bên nổi lên, trước sau đánh giáp lại, Sách bị thương nặng, Lộc đánh nhau với giặc bị chết, Quang cũng bị giặc giết chết. Nguyễn Công Nhàn trông thấy, sấn lại đánh giết để cứu viện, giặc lui, mới hộ đưa Sách về bảo.

Việc đến tai vua, vua phê rằng : dẹp được giặc vây ở Sa Tôn đủ yên lòng trẫm, chỉ nghĩ đến Sách lại bị thương, là đáng lo thôi. Sách lấy toán quân không đầy 1.000 người đánh bọn giặc hơn 10.000 người mà được thắng trận lớn, đã mạnh lại có mưu, thật là xuất sắc, chuẩn cho thưởng thụ Chưởng vệ, gia quân công 3 cấp, cho bài vàng Anh dũng tướng quân. Lại thưởng cái nhẫn khảm ngọc, kim cương, kim tiền phi long hạng lớn và 30 lạng bạc.

Thiệu Trị năm thứ 1 (1841), cùng với Nguyễn Tiến Lâm , Nguyễn Tri Phương tiến quân đánh phá Lâm Sơn ở Đô, dẹp yên hết giặc ở Lạc Hóa (việc chép ở truyện Tiến Lâm) thăng Thự Đề đốc tỉnh Vĩnh Long, gia thưởng bài đeo bằng ngọc trắng, có dây thao kết ngọc san hô trân châu rủ xuống; lại thưởng một cái nhẫn mạ vàng có khảm nhiều hạt ngọc kim cương, một đồng kim tiền "song long" hạng vừa, một cái áo trận bằng đoạn gấm tết màu tím bông tròn nhỏ thêu kim tuyến.

Năm thứ hai, Tù trưởng nước Xiêm là Ô Thiệt Vương đem nhiều binh thuyền, cướp biên giới ta, Văn Sách cùng Tuần phủ Lương Văn Liễu đánh lui được. Cờ đỏ báo tin thắng trận, vua dụ rằng : Anh dũng tướng quân Đoàn Văn Sách là con Diên Hựu Tử Văn Trường, cửa tướng lại sinh ra tướng, dòng dõi danh thần. Khi làm Lãnh binh ở Hải Đông, dẹp yên giặc Xiêm, lập được công lớn, Hoàng khảo ta yêu mến, hậu gia thưởng bài vàng "Anh vũ tướng" nêu lên công đánh giặc; để lại cho trẫm. Năm ngoái vì có quân công, thăng Thự Đề đốc nay sai đóng giữ Hà Tiên, vừa gặp lúc có giặc lớn, lại hay lấy toán quân một đội, quét hết được giặc Xiêm, để cho ngày đi tuần miền Bắc, đỡ phải lo về trông coi miền Nam, công to lớn, thực đáng có cờ thói thường ghi công cho đến khi sông cạn núi mòn. Vậy hàm thự cho nay thực thụ, gia thưởng một cái nhẫn mạ vàng khoảng 7 hạt liền nhau, các thứ ngọc kim cương, hỏa tề của vua dùng, một cái ngọc bội trắng có chữ "song phượng triều dương" rộng lòng, có dây thao kết ngọc trân châu san hô rủ xuống, kim tiền "phú thọ đa nam" hạng lớn, hạng nhỏ mỗi h841;ng một đồng.

Tháng 4 năm ấy ốm chết, vua xót thương mãi. Dụ rằng : Sách xuất thân từ người tá nhỏ, việc đánh ở Hải Đông, mang một toán quân đánh úp giết được quân hàng vài vạn của nước Xiêm, nước Lạp, giải ngay được vây ở bảo Sa Tôn, lại đuổi giết giặc, bọc vết thương, cố sức đánh, Hoàng khảo ta dụ cho trẫm ở trước mặt khen về đởm khí bao cả thiên hạ, không kém người đời xưa. Kịp khi phái đi Lạc Hoá, đóng giữ tỉnh Hà Tiên, thường lập công to, biên cảnh yên lặng,ương mong hát kéo quân về uống rượu, về đến nơi phong cho tước ấp hưởng mãi đến khi sông cạn núi mòn, mới rồi để đền công khó nhọc. Nghe tin có bệnh, tức thì sai cho đưa nhân sâm ở thượng phương của vua dùng để làm thuốc thang; nào ngờ bị nhọc mệt đã lâu năm, dẫu thầy thuốc giỏi như Biển Thước cũng không chữa được. Nghìn vàng dễ kiếm, một người tướng khó tìm, lấy gì mà viếng để an ủi lòng trung thành. Vậy tặng cho Tiền phong Đô thống Anh dũng tướng quân, tấn phong Diên Hựu Bá, cho tên thụy là Trung Vũ; tập ấm cho một con làm Cẩm y Hiệu úy để đời đời có chức tước mãi. Trừ ra chiểu theo hàm tặng cấp tiền tuất, lại cho thêm gấm màu, sa màu mỗi thứ bốn cây, lĩnh, trừu nhiễu các màu và vải lụa mỗi thứ 10 tấm, tiền 1.000 quan, sai quan đến tế một đàn. Vua nhớ tiếc mãi hơn 1 tháng không thôi, lại làm thơ để viếng. Con là Văn Thu được tập phong tước nam. Theo lúc quốc sơ, lẽ ra ơn cho tập ấm, thì Văn Thu chỉ được ấm thụ Cẩm y Hiệu úy, chứ không được tập tước. Nhưng vua nghĩ rằng: một nhà nối đời đời có đức tốt đời đời tỏ ra có công lao, công của Văn Sách coi với những người có được tập tước có khác, mới gia ơn chuẩn cho Văn Thu tập phong tước nam, vẫn ấm thụ Cẩm y Hiệu úy, đấy là đặc cách vậy.

Con thứ là Văn Tuyển lấy Phú Mỹ công chúa bổ Phò mã Đô úy.

Văn Lộc là em Văn Sách, vì là con nhà tướng lệ thuộc vào sách Anh Danh. Khoảng năm Minh Mạng theo Văn Sách đến Trấn Tây đánh giặc, chết tại trận. Thiệu Trị năm thứ 1, tặng là Kiến Công Đô úy Cai đội, thụy là Tráng Hiện. Đưa vào thờ ở đền Tư Nghĩa.

Đoàn Hữu Trưng (段有徵; 1844 - 1866)

Thường gọi Đoàn Trưng (段徵), tên trong gia phả là Đoàn Thái, tự Tử Hòa, hiệu Trước Lâm; là thủ lĩnh cuộc nổi dậy ngày 16 tháng 9 năm 1866 tại kinh thành Huế, nhằm lật đổ vua Tự Đức. Sự kiện mà sử nhà Nguyễn và người dân quen gọi là Loạn chày vôi hoặc Giặc chày vôi

Vua Tự Đức kế ngôi giữa lúc chế độ phong kiến trên đà mục nát, kiệt quệ và cuộc sống của người dân vốn chịu nhiều tai ách đã hết sức cùng cực,thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiều năm liền, loạn lạc nhiều nơi, thực dân Pháp đang lấn chiếm nước Việt và nội bộ hoàng tộc cũng đang ran vỡ, phân hóa trầm trọng; Đoàn Trưng đứng về phía những người chủ chiến và những người dân bị bóc lột, bị áp bức. Ông nhận thấy cần phải thay thế Tự Đức, bằng một ông vua yêu nước tiến bộ khác, mới có thể chỉnh đốn và bảo vệ được đất nước. Người được Đoàn Trưng cùng các cộng sự lựa chọn lúc đó là Đinh Đạo (con Hồng Bảo). Cho nên ở trong Ký Thưởng viên của cha vợ một thời gian, Đoàn Trưng xin ra ngoài ở riêng, để dễ dàng mưu sự...

Trước tiên, Đoàn Trưng cùng với Đoàn Trực, Đoàn Ái Trương Trọng Hòa, Phạm Lương (theo Đỗ Bang, Phạm Văn Sơn ghi là Phạm Lương Thành) lập ra một thi xã gọi là Đông Sơn thi tửu hội, lấy rượu thơ bề ngoài mà bàn quốc sự bên trong, để che mắt nhà cầm quyền đương thời. Sau, Hội chiêu nạp thêm một số quan lại, binh lính và sư sãi, như Tôn Thất Cúc (hữu quân), Tôn Thất Giác (vệ úy), Bùi Văn Liệu (suất đội), Lê Văn Tề (lính vũ lâm), Nguyễn Văn Quí (nhà sư trụ trì chùa Long Quang, có chùa riêng là Pháp Vân, tức chùa Khoai, gần công trường Vạn Niên), Nguyễn Văn Viên (nhà sư),...

Và lực lượng chính của cuộc nổi dậy là khoảng ba ngàn binh lính, phu thợ bị cưỡng bức lao động, đang bất mãn vì phải làm lụng khổ sở để xây lăng cho vua.

Tháng 9 năm Bính Dần (1866), Đoàn Hữu Trưng bàn với mẹ và vợ Đinh Đạo xin lập đàn chay cho Hồng Bảo, để có cớ tập hợp lực lượng. Buổi lễ cúng kéo dài đến ngày thứ ba, khoảng 3 giờ sáng ngày 16 tháng 9 năm 1866

Đoàn Hữu Trưng dẫn đầu đoàn quân khởi nghĩa kéo sang công sở Vạn Niên. Đoàn Hữu Trưng tự xưng là tham tri bộ Công, ngồi trên chiếc võng điều có lọng che và lính hầu quạt theo lệnh vua để khám xét công trường. Bắt hai tên đốc công cay nghiệt là Nguyễn Văn Chất và Nguyễn Văn Xa, điều về kinh trị tội. Còn các binh phu hễ ai đang cầm chày giã vôi trong tay thì được đổi phiên về nghỉ. Binh phu nghe nói cả mừng đổ xô vào bắt thống chế Xa, trói lại rồi vác chày vôi theo Trưng tiến về phía kinh thành...

Riêng biện lý Chất, ngẫu nhiên đêm hôm ấy lén về thành nên thoát nạn...

Tờ mờ sáng, nhờ Tôn Thất Cúc mở cửa, nên đoàn quân nổi dậy nhanh chóng tiến vào Đại cung. Sau khi chém bị thương vệ úy Nguyễn Thịnh và chỉ huy sứ Phạm Viết Trang, quân nổi dậy tiến vào điện Cần Chánh. Đoàn Trưng còn đang tìm cửa Tấu Môn thì chưởng vệ long võ quân Hồ Oai xuất hiện. Thấy quân nổi dậy đông quá, Hồ Oai hoảng sợ chạy lui về cửa Càn Thành, nơi vua đang ngủ. Đoàn Trưng nhanh chóng đuổi theo rồi lia gươm qua khe cửa, chém mất tai phải của Hồ Oai, nhưng Hồ Oai vẫn ghì chặt cửa nên Đoàn Trưng không vào được.

Bắt không được vua, Đoàn Hữu Trưng cho tập trung quân tại sân Điện Thái Hoà (hoàng thành Huế), sai Đoàn Tư Trực đến khám đường rước Đinh Đạo về tấn phong, vì thế Hồ Oai đã kịp thời dẫn quân đến phản công. Hai bên đánh nhau một hồi rút cuộc anh em Trưng đều bị bắt sống...

Cuộc nổi dậy thất bại, ba anh em Đoàn Trưng, Đoàn Trực, Đoàn Ái bị xử lăng trì. Đoàn Thi bị án tử hình. Đoàn Khóa mất tích, Đoàn Hào chết, Đoàn Thị Châu bị kết án tù đày 20 năm sau mới về... Cả họ Đoàn bị đổi sang họ Đoạn, con cháu phải lưu tán, không được thi cử...

Vua Tự Đức cho tịch thu gia sản của Đoàn Trưng, chỉ để lại một phần nhỏ cho bà mẹ, vì bà đã lớn tuổi lại bị mù. Thể Cúc, vợ Đoàn Trưng, nhờ khi trước ngày khởi sự, bà đã bị “đuổi” về nhà bố mẹ ruột vì tội “bất kính với mẹ chồng” nên được miễn nghị, nhưng buộc cải sang họ mẹ (họ Tống) và phải đi tu...

Đoàn Hữu Trưng và Thể Cúc có một đứa con trai tên là Ngáo. Vì quá nhỏ nên Ngáo chưa bị xử, đưa cho người bà con đang ở rể trong phủ Tuy Lý vương nuôi. Khoảng 13 tuổi, Ngáo bỗng dưng mất tích.

Cả gia đình Hồng Bảo gồm 8 người là Đinh Đạo (Ưng Đạo), Đinh Tự, Đinh Chuyên, Đinh Tương (đều là con Hồng Bảo), Thị Thụy (vợ Hồng Bảo, mẹ Đinh Đạo) và hai đứa con Đinh Đạo (một trai, một gái) đều bị xử giảo (treo cổ).

Và cũng do sự việc này, vua Tự Đức phải đổi tên Vạn niên cơ thành Khiêm Cung và viết bài biểu trần tình dài để biện bạch, trong đó có câu: dân chúng nhất thời dại dột mà nghe theo chứ không thật tình thù oán triều đình.

Tính ra, khi Đoàn Hữu Trưng bị giết (Bính Dần [1866]), ông mới 22 tuổi.

Hiện nay ở phường An Phú, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh và phường Phước Vĩnh, thành phố Huế đều có con đường mang tên Đoàn Hữu Trưng.

Đoàn Minh Huyên- Tu sĩ (1807- 1856)

Quê quán xã Mỹ An Hưng A - huyện Lấp Vò - tỉnh Đồng Tháp (tổng An Thạnh Thượng - huyện Vĩnh An - tỉnh An Giang)

Tên khác Đức Phật thầy Tây An, Giác Linh.

Đoàn Minh Huyên là tu sĩ, người được nhân dân vùng An Giang đương thời gọi là Đức Phật thầy Tây An, đạo hiệu là Giác Linh, quê thôn Tòng Sơn, Cái Tàu Thượng, tổng An Thạnh Thượng, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang (nay thuộc xã Mỹ An Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).

Năm Kỷ Dậu (1819), vào mùa thu, bệnh thời khí nhiễu hại dân chúng Hậu Giang. Ông từ Tòng Sơn vào Tràm Dư, rồi đến vùng Kiến Thạnh (nay là làng Long Kiến, tỉnh An Giang) giúp đỡ dân chúng. Tín đồ ông đều được phát một tông phái ghi 4 chữ “Bửu Sơn Kỳ hương”.

Nhiều lúc ông bị nhà cầm quyền An Giang bắt giữ vì nghi ngờ ông hoạt động chính trị, nhưng xét không bằng cớ, phải trả tự do cho ông.

Khoảng năm 1849-1856, ông đến các phần đất phía tây Thất Sơn và Láng Linh, dựng chùa, lập trại ruộng và luôn luôn vân du khắp vùng Vĩnh Long - An Giang.

Trại ruộng ở Thới Sơn, ông đặt danh hiệu là “Bửu hương các” có nhiều người đến tu học.

Ông mất vào ngày 12-8 năm Bính Thìn (1856) tại chùa Tây An ở núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Mộ và đền thờ ông hiện còn tại chân núi Sam Tòng Sơn, nơi phát tích đạo Bửu Sơn kỳ hương. Tuy là một tu sĩ, nhưng Đoàn Minh Huyên còn là một nhà yêu nước, nhà dinh điền lớn có công khai hoang miền đất Hậu Giang.

Đoàn Văn Trường (? - ?) Danh thần

Danh thần Đoàn Văn Trường, đời Gia Long, không rõ năm sinh, năm mất, quê huyện Đông Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).

Ông có võ nghệ cao cường, theo Nguyễn Ánh, lãnh chức Khâm sai Cai cơ, ông cùng tổng nhung Nguyễn Khoa Thuyên và tiên phong Nguyễn Văn Thành lập nhiều công trạng trong cuộc chiến với Tây Sơn.

Sang đời Minh Mạng, năm Tân Mão (1831), ông làm Tổng đốc Trị Bình, năm sau đổi làm Tổng đốc Thanh Hoá, rồi thăng Thự Tả quân Đô thống Chưởng phủ sự, nhưng lãnh Tổng đốc Hà Ninh, gia hàm Thái tử Thiếu Bảo.

Khi mất, được truy tặng Đô thống chế.

Đoàn Chí Tuân (1855-1897),

(hiệu là Bạch Xĩ)

Hay còn gọi là Đoàn Đức Mậu, hiệu là Bạch Xĩ, là nhà thơ và là thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19 tại Việt Nam. Ông đã từng xưng danh hiệu Hoàng đế, để kế tục vua Hàm Nghi chống Pháp, nhưng không nhận được sự ủng hộ rộng rãi và cuối cùng thất bại.

Đoàn Chí Tuân sinh tại làng Hòa Ninh, nay thuộc xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình có truyền thống Nho học. Tổ 4 đời của Bạch Xĩ là Đoàn Chí Nguyện từng tham gia giúp nhà Tây Sơn và dự trận Ngọc Hồi-Đống Đa.

Cha Bạch Xĩ là Đoàn Chí Thông, còn được gọi là cụ Hương Thân, là người có chí hướng chống Pháp. Từ khi người Pháp vào đánh Việt Nam, Đoàn Chí Thông thường tập hợp người làng tại nhà bàn việc nước.

Bạch Xĩ thông minh từ nhỏ, nổi tiếng là thần đồng. Năm lên 5 tuổi (1860), ông được cha cho đi học. Chỉ sau một thời gian, ông Tú Nguyễn trong làng đã khâm phục chí thông minh của Chí Tuân. Năm 6 tuổi (1861), ông được cha cho theo học thày quan biện họ Trần ở làng Thọ Linh. Sau 1 năm, thày không dám dạy Chí Tuân nữa vì trò Tuân “đã học hết chữ của thày”. Sau này ông còn theo học vài danh Nho nữa và đến năm lên 10 tuổi thì tự học ở nhà.

Năm 12 tuổi (1867), Đoàn Chí Tuân đọc được nhiều sách của Trung Quốc, Nhật Bản. Dù còn ít tuổi, Bạch Xĩ đã thông hiểu lịch sử Trung Quốc, việc đất nước bị người Hoa đô hộ và công trạng của những người chống xâm lược của Việt Nam. Tài năng văn thơ của ông nổi danh khắp vùng khiến vua Tự Đức nghe tiếng, sai Tùng Thiện vương đến tận nơi xem có phải là lời đồn ngoa. Sau đó Tùng Thiện Vương về tâu lại rằng lời đồn đại về Đoàn Chí Tuân là đúng. Tự Đức lo ngại và cho rằng phải đề phòng sau này ông lớn lên “sẽ làm giặc”.

Năm 1873, quân Pháp tấn công Bắc Kỳ, các phong trào chống Pháp nổ ra, từ đó tư tưởng chống Pháp của ông hình thành rõ rệt. Ông đi nhiều nơi, tìm kết giao với những người cùng tư tưởng chống Pháp, đến cả những vùng người Lào, người Mường. Đối với những hòa ước của nhà Nguyễn, Đoàn Chí Tuân tỏ ra bất mãn không đồng tình, vì vậy dù có tài nhưng ông quyết định không bao giờ đi thi, bởi ông cho rằng vua đã bán nước thì đi thi làm quan với ai? Ông bỏ bút sách và đi học võ mưu cứu nước.

Năm 1885, kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra ngoài, phát chiếu Cần Vương. Bạch Xĩ ra đón xa giá vua Hàm Nghi để xin theo giúp, nhưng Tôn Thất Thuyết không trọng dụng ông, vì vậy ông trở về quê tổ chức quân đội chống Pháp.

Trong vòng 2 tháng, Bạch Xĩ tập hợp được một đội quân gồm 490 người, chủ yếu là người Hòa Ninh, còn lại là những người xã lân cận như Minh Lệ, Vĩnh Lộc, La Hà, Vĩnh Phúc. Trong thành phần đội quân này có cả người theo Công giáo và lính cũ của triều đình. Vũ khí trong quân, ngoài súng còn có cung nỏ, giáo mác, đoản đao.

Vì Hòa Ninh không có địa bàn hiểm trở để tổ chức căn cứ nên sau một thời gian huấn luyện quân, Bạch Xĩ phải chia quân ra làm 3 nhóm đi về 3 hướng đánh địch.

Nguyễn Hưng Vương dẫn 130 người đi nhập vào với nghĩa binh Cao Thượng Trí hoạt động ở Xuân Mai. Đinh Hán dẫn 120 người lên nhập với quân của Mai Lượng ở Cao Mại.

Bạch Xĩ cùng Nguyễn Ngọc Hiền mang số quân còn lại lên nhập vào quân của Hoàng Phúc ở Vạn Xuân (Nam Quảng Bình).

Tại Vạn Xuân, Bạch Xĩ làm mưu sĩ phụ tá cho Hoàng Phúc, số quân của ông được nhập cùng đạo quân của Đề Phú. Từ năm 1885 đến 1888, 3 cánh quân Hoàng Phúc, Mai Lượng và Cao Thượng Trí đã hoạt động khá mạnh.

Vì sự chống đối của các cánh quân này, Đồng Khánh đi Bắc tuần từ Quảng Trị ra Đồng Hới mất 23 ngày (27/7 – 19/8) mới đến nơi. Tại đây Đồng Khánh đã kêu gọi quân nổi dậy ra đầu thú và treo giải cho ai bắt được các thủ lĩnh, trong đó có Bạch Xĩ, nhưng không kết quả. Sau 10 ngày, Đồng Khánh phải bỏ dở chuyến Bắc tuần trở về Huế.

Cuối năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt, các cánh quân Quảng Bình tan rã. Các thủ lĩnh còn lại đều thoái chí: Tôn Thất Đàm tự sát, Lê Trực đi ẩn dật, Cao Thượng Chí, Mai Lượng, Đề Phú và Đề Én đều trốn tránh về quê làm ăn. Chỉ còn lại Bạch Xĩ và cánh quân Hòa Ninh quyết tâm đánh Pháp đến cùng. Ông mang quân trở về Hòa Ninh, tập hợp thêm lực lượng, sau đó tiến ra Hà Tĩnh hoạt động.

Bạch Xĩ tìm đến Hương Khê theo Phan Đình Phùng và được thu nạp. Cánh quân của ông nhập vào với quân Hương Khê, còn Đoàn Chí Tuân trở thành một tướng bên cạnh Cao Thắng, Nguyễn Chánh và 10 tướng khác trong bản doanh của Phan Đình Phùng.

Vua Hàm Nghi bị đi đày, Đoàn Chí Tuân kiến nghị với Phan Đình Phùng nên tôn một vị vua mới lên lãnh đạo phong trào chống Pháp, tập hợp liên kết nhân dân các thành phần theo Lương và Công giáo cùng đánh Pháp. Tuy nhiên, Phan Đình Phùng và các tướng lĩnh Hương Khê đều không tán thành ý kiến của ông, thậm chí tỏ ra nghi ngờ lòng trung thành của ông. Bạch Xĩ thất vọng bèn bí mật rút cánh quân Hòa Ninh ra khỏi quân Hương Khê đi chiến đấu độc lập.

Bạch Xĩ mang quân về Đại Hàm xây dựng căn cứ. Ông cho rằng tầng lớp sĩ phu yêu nước muốn tôn vua đánh giặc, do đó nhất định phải có một vị vua tập hợp nhân dân chống Pháp. Để kế tục vua Hàm Nghi đánh Pháp, ông tự mình lên ngôi hoàng đế, tự xưng niên hiệu là Long Đức, lập ra triều nghi, cắt đặt 28 thủ hạ làm 28 triều thần rồi truyền hịch kêu gọi nhân dân theo Lương và Công giáo cùng nhau đứng lên chống Pháp.

Để tận dụng lòng tin của dân, Đoàn Chí Tuân tuyên truyền phép thuật, rằng đội quân của ông có thể dùng bùa hộ mệnh, phép tàng hình để tránh giặc và thần thông biến hóa khi ra trận để thắng giặc; dùng phép “nhâm, cầm, độn” để phán đoán tình hình... Ông đã tập hợp thêm được một số nhân dân vùng Hương Khê, Hương Sơn, La Sơn và cả từ Quảng Bình ra hưởng ứng. Ông và tổ chức chiến đấu trên cùng chiến trường với quân Phan Đình Phùng.

Lực lượng quân Bạch Xĩ lúc đông nhất có 600 người. Ông chia thành 4 vệ: tiền, hậu, tả, hữu có chính vệ và phó vệ quân.

Ngoài những trận đánh nhỏ, đội quân của Long Đức hoàng đế có những trận thắng địch đáng kể.

Ngày 15 tháng 1 năm 1891, quân Pháp tiến hành cuộc càn quét lớn kéo dài 15 ngày vào Hương Khê. Bạch Xĩ cho quân phục ở tả ngạn sông Ngàn Sâu, chỗ bến đò Thanh Luyện bất ngờ đổ ra đánh khiến quân địch bị thiệt hại khá nhiều, đồng thời thu được 9 súng trước khi rút lui an toàn.

Ngày 4 tháng 3 năm 1891, nhân ngày phiên chợ. Bạch Xĩ được một đội lính khố xanh làm nội ứng kéo quân Pháp ra chợ ăn uống. Nhân lúc đồn địch còn lại ít người, ông cho quân tập kích chớp nhoáng cướp được 11 khẩu súng.

Sau trận này, quân Bạch Xĩ ra sức khuếch trương thắng lợi, đề cao thủ thuật biến hóa, pháp thuật cao cường. Nhiều người nghe nói như vậy đều rất khâm phục Bạch Xĩ, tin rằng ông có phép thuật thật.

Bên cánh quân Hương Khê cũng có nhiều người bàn tán về tài năng của ông. Vì vậy Phan Đình Phùng không bằng lòng, kết tội ông tự ý xưng vua, bắt tay với Công giáo là phản nghịch, lại dùng bùa phép mê hoặc lòng người. Do đó Phan Đình Phùng quyết định cử người đi bắt giết ông. Bạch Xĩ biết được ý định đó, ông cho rằng chỉ vì hai người không cùng quan điểm. Để tránh đổ máu giữa hai cánh quân, ông kéo các thủ hạ rút khỏi Đại Hàm, không tỏ ý thù oán Phan Đình Phùng. Vì vậy ý định của Phan Đình Phùng không thực hiện được.

Giữa tháng 5 năm 1892, Bạch Xĩ mai phục một đoàn tiếp tế vận lương từ Minh Cầm lên Hương Khê. Khi quân địch lọt vào ổ phục kích ở tả ngạn Ngàn Sâu, quân Bạch Xĩ dùng súng và cung nỏ bắn ra. Quân địch bị thương vong gần hết, Bạch Xĩ thu được 9 súng, 15 hòm đạn và 9 gánh quân lương.

Sau đó quân Bạch Xĩ còn giành được một số thắng lợi nữa vào tháng 1 và tháng 8 năm 1893 và tháng 6 năm 1894.

Cuối năm 1895, Phan Đình Phùng lâm bệnh mất, quân Pháp tổ chức càn quét lớn để bắt nốt các tướng lĩnh Hương Khê. Bạch Xĩ cùng các tướng lĩnh tích cực chống trả nhằm đỡ đòn cho lực lượng còn lại của quân Hương Khê. Tháng 3 năm 1896, ông tổ chức tấn công vào đồn Trì Bản, dùng hầm chông bẫy địch khi rút lui và giết được một số quân đuổi theo.

Cuối tháng 5 năm 1896, các tướng lĩnh cuối cùng của quân Hương Khê bị bắt, tại Hà Tĩnh chỉ còn lực lượng chống Pháp của Bạch Xĩ. Quân Pháp được sự hỗ trợ của trưởng đồn Linh Cảm người Việt vốn thông thạo địa hình nên tiến sâu vào Đại Hàm, núi Quạt và Chúc A. Đội quân của Đoàn Chí Tuân bị bệnh sốt rét hoành hành, trong đó có cả ông và phụ tá Nguyễn Ngọc Hiền. Chính vì vậy, quân dưới quyền ông không có ai chỉ huy tổ chức chiến đấu. Hoạt động của quân Bạch Xĩ yếu hẳn đi, phải rút vào rừng sâu; một số người lần trốn trong dân nhưng bị bắt; cùng lúc đó Phó vệ Hoàng Hiểu cùng 11 người Công giáo ra hàng.

Chính vệ Nguyễn Ngọc Hiền cố gượng dậy tổ chức chống càn, đánh thắng một trận ở làng Hòa Duyệt tại hữu ngạn sông Ngàn Sâu vào tháng 9 năm 1896, diệt 17 lính khố xanh và thu 4 súng. Đây là thắng lợi cuối cùng của cánh quân Bạch Xĩ.

Được một số người Việt chỉ điểm, quân Pháp tập trung 430 người nửa đêm kéo đến bao vây 2 làng Trung Định và Đại Hoàng ở trước mặt núi Đại Hàm. Rạng sáng ngày 12 tháng 10 năm 1896, Đoàn Chí Tuân bị bắt khi đang bị sốt rét nặng, nằm trong nhà một người dân ở làng Trung Định. Trong các thủ hạ của ông, 60 người bị bắt, 27 người bị bắn chết cùng 3 dân làng.

Quân Pháp trói Đoàn Chí Tuân khiêng về Vinh và giam tại nhà lao Vinh. Người Pháp tìm cách dụ hàng ông nhưng ông từ chối. Sau đó người Pháp sai Hồ Lệ là người quen cũ của ông đi thuyết phục ông đầu hàng.

Hồ Lệ làm câu thơ tỏ ý thương xót ông:

Thương người răng trắng gặp hồi đen

Đoàn Chí Tuân bèn đáp lại:

Đau kẻ lòng son ôm máu đỏ

Không thể thuyết phục được ông, người Pháp dùng đòn tra tấn nhưng ông vẫn không chịu khuất phục. Cuối cùng, ông đã qua đời trong nhà lao vào cuối năm 1897. Năm đó ông 42 tuổi. Ban đầu người Pháp muốn giấu việc này, nhưng sau đó sang đầu năm 1898 mới công bố ông đã chết cuối năm 1897, nhưng không nêu rõ ngày tháng.

Sau khi ông mất, phụ tá Nguyễn Ngọc Hiền tập hợp số quân còn lại, tuyên bố giải tán quân sĩ, chia những quân trang vật dụng còn lại, khuyên mọi người về quê làm ăn, chờ thời cơ có thủ lĩnh chống Pháp khác.

Đoàn Chí Tuân làm khá nhiều thơ, chủ yếu góp phần động viên, cổ vũ quần chúng chống Pháp và chống chủ trương thỏa hiệp của nhà Nguyễn. Không chỉ sáng tác trong thời trẻ, suốt quá trình chiến đấu, ông vẫn liên tục làm thơ, phú, viết câu đối...

Thơ văn Đoàn Chí Tuân viết cả bằng chữ Hán và chữ Nôm. Nhiều tác phẩm đã bị người Pháp truy tìm và tiêu hủy. Sau đó, một số người thu thập và sưu tầm lại thơ văn của ông, đến nay còn lại:

7 bài thơ Đường bằng chữ Nôm: Bới khoai, Quét nhà, Rang bắp, Không lấy vợ, Đi Lào Mường, Thanh kiếm và Tự xưng ngôi.

2 bài thơ Đường chữ Hán: Tự thuật và Tặng Phan Đình Phùng

2 bài phú Nôm theo thể ca trù: Chí nam nhi và Tế thế yên dân

Một bài phú chữ Hán theo thể hịch: Hịch kêu gọi đánh giặc

Thơ Đoàn Chí Tuân toát lên lòng yêu nước, dù mô tả những việc làm thông thường trong cuộc sống nhưng luôn bày tỏ tư tưởng chống xâm lược. Đó là những trường hợp bài thơ Bới khoai và Quét nhà - được lựa chọn vào Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ 19 của Phi Bằng.

Đoàn Văn Phú (?-?)

Ông là dòng dõi con cháu cụ Đoàn Bá Tuân ở Thừa Thiên Huế, định cư ở làng Sơn Tùng, huyện Quảng Điền. Đoàn Văn Phú từng giữ chức vụ “Thượng thư Bộ binh, Hiệp biện Đại học sĩ” triều Minh Mạng. Hậu duệ của ông Phú sau này có ông Đoàn Quang Đáng là UVBCH ĐCVN khóa III,IV,V, Phó bí thư TW cục Miền Nam (1962-1967), mất năm 1997.

Người huyện Quảng Điền, phủ Thừa Thiên. Gia Long năm thứ 17, Phú lệ theo làm Thư ký bộ Công. Khoảng năm Minh Mạng, trải bổ Chủ sự, Lang trung. Năm thứ 13, Phú vì nhanh giỏi được v, thăng Thự Thị lang bộ Công. Năm thứ 16, chuyển làm Tham tri bộ Công, lĩnh Tuần phủ Gia Định, rồi đổi đi Thự Tổng đốc 2 tỉnh Long Tường, Định Biên. Năm thứ 19, được thực thụ (tổng đốc), quyền làm công việc thành Trấn Tây. Năm thứ 21, Phú ốm chết.

Văn Phú là người liêm khiết, ít tình diện, ở quan thanh bạch, lâu làm việc cai trị dân mà túi làm quan rỗng không. Ngày Phú chết, quan lại nhân dân nhớ tiếc quyên tiền giúp việc mai táng.

Vua trọng về lòng thanh liêm tiết tháo của Phú tặng cho hàm Hiệp biện Đại học sĩ, và thưởng cho 3 cây gấm Trung Quốc, 500 quan tiền. Dụ rằng : đó là để khuyến khích cho người làm tôi liêm khiết sau này.

Tự Đức năm thứ 11, bày thờ vào đền Hiền Lương.

• Các Nhà Khoa bảng thời kỳ này có:

- a/- Đỗ Tiến sĩ có 01 người:

1 Đoàn Văn Bình 1846 Hạ Lang, Quảng Điền, Thừa Thiên-Huế

Đoàn Văn Bình:

Ông là người Hạ Lang, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế, nay là thôn Hạ Lang, xã Quảng Phú, Huyện Quảng Điền. Ông còn có tên Đoàn Văn Hội, năm 25 tuổi đỗ Phó bảng Ân khoa, khóa Mậu Thân, niên hiệu Tự Đức (1848), làm quan đến chức Hiệp biện Đại học sĩ, Thái tử Thiếu bảo lĩnh Lại bị Thuợng thu.

b- các vị đỗ Cử nhân: 54 người

TT Họ và Tên Đỗ Quê quán

1 Đoàn Xuân Sảng: 1813 Chân Nguyên, Nam Chân, Nam Định

2 Đoàn Trọng Quýnh: 1813 Trung Hòa, Bình Dương, Gia Định

3 Đoàn Bá Trinh 1819 Ôn Xá, Văn Giang, Hưng Yên

4 Đoàn Thế Trạch 1821 Phù Lỗ, Kim Anh, Hà Nội

5 Đoàn Khiêm Quang 1821 An Thành, Bình Dương, Gia Định

6 Đoàn Mậu 1828 Hải Yến,Tiên Lữ, Hưng Yên

7 Đoàn Văn Phương 1828 Vĩ Bạc, Quảng Xương, Thanh Hóa

8 Đoàn Huy Tú 1829 Gia Lộc, Hải Dương

9 Đoàn Danh Dương 1831 Quang Thiềm, La Sơn, Hà Tĩnh

10 Đoàn Trọng Huyên 1831 Hữu Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội

11 Đoàn Văn Hoán 1843 Nam Phố, Phú Vang, Thừa Thiên- Huế

12 Đoàn Văn Bình 1846 Hạ Lang, Quảng Điền, Thừa Thiên-Huế

13 Đoàn Duy Trinh 1846 Nhơn Hòa, Bình Sơn, Quảng Ngãi

14 Đoàn Khắc Nhượng 1846 Nhơn Hòa, Bình Sơn, Quảng Ngãi

15 Đoàn Công Nhẫm 1848 Vi Sơn, Thạch Thất, Hà Nội

16 Đoàng Duy Thục 1849 Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội

17 Đoàn Hy 1848 Vân Chàng. Nam Trực, Nam Định

18 Đoàn Đức Mậu 1850 Đông Công, Hương Sơn, Hà Tĩnh

19 Đoàn Kim Giao 1852 U Đàm, Phong Điền, Thừa Thiên-Huế

20 Đoàn Thuật 1852 Vân Chàng, Nam Trực, Nam Định

21 Đoàn Ngọc Ái 1852 Hải Yến, Tiên lữ, Hưng Yên

22 Đoàn Văn Diệu 1855 Cửu An, Đồng Xuân, Phú Yên

23 Đoàn Tảo 1858 Hải Yến,Tiên Lữ, Hưng Yên

24 Đoàn Tấn Thiện 1858 Mỹ Đông Hiếu, Kiến Đăng

25 Đoàn Đảng 1868 Hải Yến, Tiên Lữ, Hưng Yên

26 Đoàn Như Bích 1870 Đậu Kinh, Đăng Sương, Quảng Trị

27 Đoàn Bưu 1870 Hữu Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội

28 Đoàn Văn Tiến 1874 Thi Liệu, Nam Định

29 Đoàn Văn Anh 1876 Đông Thanh, Nam Định

30 Đoàn Hữu Thuật 1876 Xã Thái Bình, Nam Định

31 Đoàn Diệu 1876 Ngọc Thạch, Tuy Phước, Quảng Nam

32 Đoàn Cư 1878 U Đàm, Phong Điền, Thừa Thiên-Huế

33 Đoàn Điển 1878 Hải Yến, Tiên Lữ, Hưng Yên

34 Đoàn Văn Thước 1884 U Đàm, Phong Điền, Thừa Thiên-Huế

35 Đoàn Triển 1885 Hữu Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội

36 Đoàn Thụy Liên 1887 Hải Yến, Tiên Lữ, Hưng Yên

37 Đoàn Tấn 1887 Xối Thượng, Nam Định

38 Đoàn Danh Chấn 1887 Hải Yến, Tiên Lữ, Hưng Yên

39 Đoàn Tùy 1891 Phú Môn, Phú Vang, Thừa Thiên-Huế

40 Đoàn Khởi 1891 Ngọc Sa, Quảng Nam

41 Đoàn Văn San 1891 Đức Nhuận, Thanh Chương, Nghệ An

42 Đoàn Thúc 1894 Bình Sơn, Quảng Ngãi

43 Đoàn Thụy Giáp 1894 Hải Yến, Tiên Lữ, Hưng Yên

44 Đoàn Văn Huy 1894 Mai Dịch, Hà Nội

45 Đoàn Tử Quang 1900 Phụng Công, Hương Sơn, Hà Tĩnh

46 Đoàn Tố 1903 Mỹ Đức, Tuy Viễn, Bình Định

47 Đoàn Ngưng 1906 Hữu Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội

48 Đoàn Như Chương 1906 Hải Yến, Tiên Lữ, Hưng Yên

49 Đoàn Vĩ 1906 Hữu Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội

50 Đoàn Quân 1912 Đô Quan, Nam Trực, Nam Định

51 Đoàn Đạm 1912 Liễu Đôi, Thanh Liêm, Hà Nam

52 Đoàn Đình Chi 1915 Đào Lãng, Vĩnh Lại, Hải Dương

53 Đoàn Thăng 1915 Hải Yến, Tiên Lữ, Hưng Yên

54 Đoàn Đình Phương 1918 Đào Lãng, Vĩnh Lại, Hải Dương

• Tài liệu trên đây là trích lục trong quyển " Quốc triều Hương khoa lục" của cử nhân Nho học Cao Xuân Dục. Được dịch ra Quốc Ngữ - NXB thành phố Hồ Chí Minh ấn hành 1993, có bổ sung về vài điểm về công việc và chức tước của một số vị tham khảo trong sách " Các nhà khoa bảng Việt Nam" của Ngô Đức Thọ - NXB văn học 1993 và "Sách sứ thần Việt Nam" NXB văn hóa thông tin năm 1996.....

1.Đoàn Xuân Sảng:

Người xã Chân Nguyên, huyện Nam Chân, khoa thi năm Quý Dậu (1813), ở trường Sơn Nam, đỗ 14/28 người. Sau làm quan Đốc học.

2.Đoàn Trọng Quýnh:

Người thôn Trung Hoà, huyện Bình Dương, thi khoa thi năm Quý Dậu (1813), tại trường Gia Định, đỗ thứ 4/8 người.

3.Đoàn Bá Trinh:

Người xã Ôn Xá, huyện Văn Giang, Thi khoa năm Kỷ Mão, Gia Long thứ 18 (1819) tại trường Trực Lệ, đỗ thứ 2/17 người, làm quan Tư nghiệp.

4.Đoàn Thế Trạch:

Người xã Phủ Lỗ, huyện Kim Anh, thi khoa thi năm Tân Tỵ, Minh Mạng thứ 2 (1621), tại trường Thăng Long, đỗ thứ 15/23 người.

5.Đoàn Khiêm Quang:

Người thôn An Thành, huyện Bình Dương, đi thi khoa thi năm Tân Tỵ, Minh Mạng thứ 2 (1821), tại trường Gia Định, đỗ 7/16 người, làm quan Tham tri Bộ Hình.

6.Đoàn Mậu:

(cha con cùng thi đậu),

Người xã Hải Yến, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên, thi khoa Mậu Tý, Minh Mạng thứ 9 (1828), tại trường thi Nam Định, đỗ 25/30 người, làm Tri phủ, sau miễn nhiệm.

7. Đoàn Văn Phương:

Người xã Vĩ Bạc, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa, thi khoa Mậu Tý, Minh Mạng thứ 9 (1828) tại trường Thanh Hóa, đỗ thứ 6/11 người. Sau ra làm Tri huyện.

8.Đoàn Huy Tú:

Người xã Phương Duy, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, thi khoa thi Mậu Tý, Minh Mạng thứ 9 (1829 ) tại trường Thanh Hoá, đỗ 6/11 người, sau ra làm tri huyện.

9.Đoàn Danh Dương:

Người xã Quang Thiềm, huyện La Sơn, Hà Tĩnh, thi khoa Tân Mão, Minh Mạng thứ 12 (1831), tại trường Nghệ An, đỗ 11/18 người, có tiếng giỏi , được thăng Án sát Vĩnh Long, bị bệnh về nghỉ.

10.Đoàn Trọng Huyên:

(cha con cùng thi đậu),

Người xã Hữu Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội, thi khoa năm Tân Mão, Minh Mạng thứ 12 (1831) tại trường Nam Định, đỗ thứ 2/31 người. Làm quan đến chức Thị giảng học sĩ, Đốc học Bắc Ninh. Ông là một trong những tác gia văn học của Thăng Long - Hà Nội thế kỷ 19- 20.

Đoàn Huyên (1808-1885), theo Ứng Khê thi văn tập, lúc nhỏ tên là Bàng, sau lớn lên đổi là Trọng Huyên, tự là Xuân Thiều, sau đổi là Phúc Hoà, biệt hiệu Ứng Khê. Về sau "do lệ của triều đình ấn định rằng, phàm tên người là quan viên mà có dùng bộ "nhân" và bộ "nhật" thì đều phải đổi cả, vì thế mới đổi và bỏ bớt chữ Trọng đi, gọi là Đoàn Huyên, còn tự và hiệu thì vẫn giữ như cũ". Ông người thôn Chu Xá, xã Hữu Thanh Oai, phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Nội (nay là xã Hữu Châu, Tả Thanh Oai, tỉnh Hà Tây). Ông đỗ Cử nhân ưu hạng Đệ nhị danh năm Tân Mão niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831). Năm Ất Mùi, niên hiệu Minh Mệnh thứ 16 (1835) ông được gọi vào kinh đô Huế giữ chức Hành tẩu Bộ Binh. Năm Mậu Tuất, niên hiệu Minh Mệnh thứ 19 (1838), ông được cử giữ chức Tri huyện huyện Hưng Nhân, Thái Bình. Năm 1841, ông đổi làm quyền Tri phủ phủ Tiên Hưng rồi lại chuyển vào Huế làm Chủ sự Bộ Lễ. Ông làm quan được 12 năm, vốn tính ngay thẳng, thật thà, thanh liêm chính trực trước thói đời đen bạc, quan trường nhiễu nhương, ông thấy không thể tiếp tục con đường quan nghiệp. Ông liền dâng sớ xin về nghỉ tại quê nhà, dồn công sức cho nghề dạy học, làm thơ và viết sách. Ông dạy ở khá nhiều nơi và nổi tiếng là người đào tạo giỏi. Vì vậy đến năm Tự Đức thứ 20 (1867) ông lại được tiến cử giữ chức Đốc học Bắc Ninh. 10 năm làm Đốc học, ông để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp về một ngài Đốc học thanh liêm chính trực, tận tuỵ với nghề nghiệp. Cũng theo Ứng Khê niên phả, Bố chánh Hoàng Diệu, sau là Tổng đốc Hoàng Diệu từng nói với sĩ phu tỉnh Bắc: "Hàng đốc học ít có người như vậy".

Tác phẩm của Đoàn Huyên gồm có: Ứng Khê thi văn tập; Khâm định tiễu bình phỉ khấu phương lược (cùng tham gia biên soạn với nhiều người khác nữa); trong đó, tác phẩm đầu rất đáng chú ý.

Ứng Khê văn tập là một sưu tập thơ văn chữ Hán, chữ Nôm do Đoàn Huyên sáng tác, con trai là Đoàn Triển sưu tầm biên soạn năm Ất Tỵ, niên hiệu Thành Thái thứ 17 (1905). Tại kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, sách mang các ký hiệu A.288/1-2 và VHv.2662. A.288/1-2 khổ 30x20cm, bìa màu vàng, chữ viết chân phương. Sách dày khoảng 600 trang. VHv.2662 khổ 29,5x17cm, 104 trang.

Theo lời tựa cuốn Ứng Khê thi văn tập, sách gồm 21 quyển, chia ra thành các môn loại như: Học vấn (có Độc dịch lược sao, Độc thư chất nghi); Cử tử (có Thục đường nghĩ soạn, Thi kinh sách lược); Thù ứng (có Liên thi tự ký cùng với các phần Niên biểu hành trạng, Gia lễ, Ấp văn tặng ngôn, tùy bút phiến văn,…). Tất cả được đính thành 10 tập; sau đóng thành 3 tập, lấy tên là Ứng Khê thi văn tập. Sách của thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm chỉ có 2 tập, thiếu tập 3 phần Văn sách. Được sự giúp đỡ của chi họ Hữu Thanh Oai, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy phần đang còn thiếu này ở một cuốn sách dày 140 trang khổ 26x16,5cm, chữ viết chân phương. Sách bị mối xông khá nhiều, nhưng vẫn còn đọc được về cơ bản.

Bản A.288/1 gồm 6 mục: 1- Lời tựa (do con trai Đoàn Triển viết); 2- Thân tân tặng ngôn; 3- Niên biểu; 4- Đối liên; 5- Thi tập; 6- Thân tân tặng ngôn.

Mục 6: Thân tân tặng ngôn (từ tr.1 đến tr.57, phần cuối sách) sao chép lại toàn bộ mục 2: Thân tân tặng ngôn và sao chép thêm:

- Bài viết mừng thọ của con cháu (trai gái, dâu rể) chúc thọ nhân lễ mừng thọ Đoàn Huyên 70 tuổi.

- Sưu tập mừng thọ nhân hai cha con Đoàn Huyên và con trưởng (Đoàn Bưu) cùng được vua ban sắc năm Nhâm Thân (1872).

Bản A.288/2 trong mục Đối liên, sao chép lại phần Đối liên của cuốn A.288/1 và có chép thêm:

- Đề vịnh liên loại.

- Văn liên loại. Mục Thi tập, chép lại toàn bộ phần Thi tập của cuốn A.288/1 và có chép thêm:

- Mục lục thi tập.

Bản VHv.2662 chép các mục Đối liên, Niên biểu và Thi tập.

Thơ văn là phần chủ yếu trong sáng tác của Đoàn Huyên.

11.Đoàn Văn Hoán:

Người xã Nam Phố, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Ông dự thi năm Quỹ Mão, Thiệu trị thứ 3 (1843), tại trường thi Thừa Thiên, đỗ thứ 22/39 người. Làm quan tới chức Bố chánh.

12.Đoàn Công Nhẫm:

Người xã Vi Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Tây (nay là Hà Nội). Đi thi khoa Quý Mão, Thiệu trị thứ 3 (1848), tại trường Hà Nội, đỗ thứ 7/21 người.

13.Đoàn Văn Bình:

Người xã Hạ Lang, huyện Quảng Điền. Ông là người đỗ đầu khoa thi Bính Ngọ, Thiệu Trị thứ 6 (1846), tại trường Thừa Thiên có 46 người đỗ. Năm Mậu Thân (1848), ông đỗ Phó bảng, sau làm Hiệp tá Đại học sĩ, Thượng thư bộ Lại, gia hàm Thái tử Thiếu bảo, sung Cơ mật viện Đại thần.

14.Đoàn Duy Trinh:

Người xã Nhơn Hòa, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Đỗ thứ 34/46 người tại trường Thừa Thiên, khoa thi năm Bính Ngọ, Thiệu trị thứ 6 (1846). Làm Giáo thụ, sau cáo về.

15.Đoàn Khắc Nhượng:

(anh em họ với ông Trinh)

Người xã Nhơn Hòa, huyện Bình Sơn, đỗ thứ 40/46 người, tại trường Thừa Thiên, khoa thi năm Bính Ngọ, Thiệu trị thứ 6 (1846), làm Tuần phủ Nam Ngãi, là người có tiếng liêm khiết.

16.Đoàn Duy Thục:

Người xã Mai Dịch, huyện Từ Liêm. Đỗ thứ 4/26 người tại trường thi Hà Nội, khoa thi năm Đinh Mùi (1849), Thiệu Trị thứ 7. Sau được bổ làm Tri huyện.

17.Đoàn Hy:

Người xã Vân Chàng, huyện Nam Chân, tỉnh Nam Định. Đỗ Thủ khoa tai trường thi Nam Định. Lấy đỗ 27 người khoa thi năm Mậu Thân, Tự Đức thứ 1 (1848). Được bổ chức Giáo thụ.

18.Đoàn Đức Mậu:

Người xã Đông Công, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ thứ 20/24 người tại trường Nghệ An, khoa thi Canh Tuất, Tự Đức thứ 3 (1850).

19.Đoàn Kim Dao:

(sau đổi là Đoàn Dao),

Người xã U Đàm, huyện Phong Điền. Cha là Đoàn Cùng đỗ cử nhân. Ông đỗ thứ 20/22 người tại trường thi Thừa Thiên, khoa Nhâm Tý, Tự Đức thứ 5 (1852). Được bổ làm Án sát, sau bị cách chức, được phục dụng rồi thăng Bố Chánh Quảng Ngãi.

20.Đoàn Thuật:

Người xã Vân Chàng, huyện Nam Chân, Nam Định. Đỗ thứ 6/20 người tại trường Nam Định, khoa thi Nhâm Tý, Tự Đức thứ 5 (1852).

21.Đoàn Ngọc ái:

Người xã Hải Yến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, đỗ thứ 10/20 người tại trường Nam Định, khoa thi năm Mậu Tý, Tự Đức thứ 5 (1852).

22.Đoàn Văn Diệu:

Người xã Cửu An, huyện Đồng Xuân, Phú Yên, đỗ thứ 9/10 người tại trường thi Bình Định, khoa thi năm Ất Mão, Tự Đức thứ 8 (1855).

23.Đoàn Tảo:

Người xã Hải Yến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên (em Đoàn Ngọc Ái), đỗ thứ 22/22 người tại trường thi Nam Định, khoa thi năm Mậu Ngọ, Tự Đức thứ 11 (1858). Được bổ làm Tri phủ Lâm Thao. Sau bị cách chức.

24.Đoàn Tấn Thiện:

Thôn Mỹ Đông Hiếu, tỉnh Kiến Đăng, đỗ thứ 3/9 người tại trường Gia Định, khoa thi năm Mậu Ngọ, Tự Đức thứ 11 (1858)

25.Đoàn Đảng:

Người xã Hải Yến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, đỗ thứ 21/22 người tại trường thi Nam Định, khoa thi năm Mậu Thìn, Tự Đức thứ 21 (1868).

26.Đoàn Như Bích:

Người xã Đậu Kinh, huyện Đăng Sương, Quảng Trị, đỗ thứ 11/29 người tại trường thi Thừa Thiên, năm Canh Ngọ, Tự Đức thứ 23 (1870). Được bổ làm Giám sát Ngự sử nội vụ.

27.Đoàn Bưu:

Người xã Hữu Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội, thi khoa thi năm Canh Ngọ, Tự Đức thứ 23 (1870). Được bổ làm Tri phủ.

28.Đoàn Đình Tiến:

Người xã Thi Liệu, tỉnh Nam Định, đỗ thứ 25/25 người tại trường thi Nam Định, khoa thi năm Giáp Tuất, Tự Đức thứ 27 (1874).

29.Đoàn Văn Anh:

Sau đổi là Đoàn Văn Phương, người xã Đông Thanh, tỉnh Nam Định, thi đỗ thứ 6/21 người, tại trường thi Nam Định, khoa thi năm Bính Tý, Tự Đức thứ 29 (1876). Được bổ làm Tri phủ Xuân Trường, sau xin nghỉ.

30.Đoàn Hữu Thuật:

Người xã Thái Bình, tỉnh Nam Định, thi đỗ thứ 16/21 người tại trường thi Nam Định, khoa thi năm Bính Tý, Tự Đức thứ 29 (1876).

31.Đoàn Diệu:

31.Đoàn Diệu:

Người xã Ngọc Thạnh, huyện Tuy Phước, Quảng Nam, đỗ thứ 7/12 người, tại trường thi Bình Định, khoa thi năm Bính tý, Tự Đức thứ 29 (1876).

32.Đoàn Cư:

( sau đổi là Đoàn Lang)

Người xã U Đàm, huyện Phong Điền, Thừa Thiên (con Đoàn Kim Dao), đỗ thứ 28/32 người tại trường thi Thừa Thiên, khoa thi năm Mậu Dần, Tự Đức thứ 31 (1878). Được bổ làm Án sát Quảng Nam.

33.Đoàn Điển:

Người xã Hải Yến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, thi đỗ thứ 15/24 người tại trường thi Nam Định, khoa thi năm Mậu Dần, Tự Đức thứ 31 (1878). Được bổ làm Tri phủ Quỳnh Lưu.

34.Đoàn Văn Thuớc:

Người xã U Đàm, huyện phong Điền, Thừa Thiên, đỗ thứ 29/31 người tại trường thi Thừa Thiên, khoa thi năm Giáp Thân, Kiến Phúc thứ nhất (1884). Được bổ làm Tri huyện.

35.Đoàn Triển :

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA CỤ MAI VIÊN ĐOÀN TRIỂN

(1854-1919)

Quan lộ:

Cụ Đoàn Triển (1854 - 1919), trước là Trọng Vĩnh, sau đổi thành Triển, tự Doãn Thành, hiệu Mai Viên, sinh ngày 19 tháng 4 năm Giáp Dần (1854), niên hiệu Tự Đức 7, là con trai thứ tư của Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ kiêm Đốc học Đoàn Trọng Huyên (tức Đoàn Huyên), người làng Hữu Châu, Tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là thôn Hữu Thanh Oai, xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, Hà Nội).

Năm 28 tuổi chưa đỗ đạt, thì cụ Đốc từ trần. Cảnh nhà vốn thanh bạch, lại càng quẫn bách. Cụ được tuyển làm tham biện huyện Thanh Oai, một chức thấp, nhưng vẫn “dùi mài kinh sử” theo nếp nhà học trò.

Năm 1886, Cụ đỗ Cử nhân Ân khoa Bính Tuất năm Đồng Khánh thứ 1. Trong hoàn cảnh bấy giờ nhiều nơi có giặc giã, Cụ đã đứng ra lập đoàn Nghĩa dũng để bảo vệ xóm làng, và kêu gọi được các xã lân cận tổ chức góp sức giữ an ninh.

Năm 1889, Cụ được bổ Tư vụ rồi Chủ sự, Viên ngoại Nha Kinh lược Bắc Kỳ.

Từ năm 1894 đến năm 1914, Cụ đã đảm nhiệm các chức vụ: Tri phủ Bình Giang, Kim Môn, Nam Sách, Ninh Giang, Án sát Hà Nội, rồi thăng Tuần phủ Ninh Bình, Tuần phủ tòa Hà Nội, Tuần phủ Hà Nam, Tuần phủ sung Tuyên phủ sứ Bắc Giang, Tu thư cục phủ Thống sứ lĩnh Tổng đốc Bắc Ninh, Nam Định. Năm 1914, Cụ về hưu, hàm Thái tử Thiếu bảo, Hiệp tá Đại Học sĩ.

Cụ làm quan trong thời buổi thực dân Pháp đã thiết lập được bộ máy cai trị trên đất nước ta, vua quan triều Nguyễn mất hết quyền hành, và phong trào chống thực dân Pháp ngày càng lan rộng.

Với tài đức của Cụ nên thường được quan cấp trên ưu ái cho chọn về các địa phương giàu có để được nhiều bổng lộc. nhưng Cụ lại tự nguyện nhậm chức ở những địa phương còn nhiều khó khăn, vì Cụ đã từng nói: “Dân nghèo cần được giúp đỡ hơn dân giàu”, như năm 1894 khi về Hải Dương, Cụ chọn phủ Bình Giang, chứ không chọn phủ Nam Sách giàu có.

Tại những địa phương Cụ trị sự đều có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Điển hình như khi làm Tổng đốc Nam Định: Cụ đã biến bãi biển thành ruộng và làng, tại vùng duyên hải Xuân Trường, Hải Hậu. Cụ thường đốc thúc và kiểm soát tại chỗ công việc thủy lợi và phân lô lập ấp mới, mà dấu ấn vẫn còn để lại tới ngày nay.

Với tấm lòng “thương dân như con”, Cụ thẳng thắn đấu tranh bảo vệ dân, không sợ liên lụy mất chức quyền.

Tại Ninh Giang, khi nghe dân kêu ca về viên quan Đại lý người Pháp tự động thu thuế các thuyền buôn, Cụ đã buộc tên Đại lý phải hủy việc trên, bất chấp sự dọa nạt của viên quan này.

Khi Cụ làm Tổng đốc Nam Định, có một năm Nam Định bị lụt to, nhiều làng và cả phố phường, ngay trong tỉnh lỵ cũng phải dùng thuyền đi lại. Trong hoàn cảnh đó, ông Bạch Thái Bưởi (nổi tiếng về tài kinh doanh, và có tài sản lớn, người Pháp cũng phải nể nang) đã đem bạn hữu cùng ả đào dong thuyền đi chơi. Cụ đã ra lệnh bắt giữ và phạt, Bạch Thái Bưởi nhận lỗi và hứa giúp đỡ nạn nhân bị lụt

Là Tuần phủ kiêm Tuyên phủ sứ Phúc Yên, Cụ đã đấu tranh buộc tên công sứ Pháp Darles (khét tiếng hay bắn giết, đốt phá bừa bãi) phải thả 17 kỳ mục xã Đông Đồ (Phúc Yên) bị chúng bắt và sắp đem bắn, dù cụ phải ký giấy bảo đảm.

Năm 1915, theo thỉnh cầu của dân làng Yên Nội, Liên Mạc, Thụy Phương, Đông Ngạc thuộc tỉnh Hà Đông, Cụ đã cùng Tổng đốc Hà Đông thuyết phục được quan Thống sứ và Sở trị thủy Bắc kì bỏ kế hoạch đắp đê mới, mà đắp lại đê cũ sau vụ vỡ đê sông Hồng năm ấy. Nếu đắp đê mới sẽ đặt các làng trên ra ngoài đê, gây nhiều tổn thất cho dân. Việc đắp lại đê cũ thì các làng vẫn được ở nội đê, nên rất phấn khởi, cảm kích, đã lập Đài kỷ niệm công đức của Cụ (Được ghi trong “Bia Kỷ niệm hưu đê” viết năm 1917 bằng quốc ngữ, dựng ở đình Đông Ngạc). Cụ được nhân dân tôn xưng làm thần hoàng làng.

Cụ cũng đã từng giúp đỡ cụ Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu tránh khỏi sự truy lùng của thực dân Pháp.

Năm 1914, tròn 60 tuổi, Cụ về hưu, hàm Thái tử Thiếu bảo, Hiệp tá Đại Học sĩ, và lập khu Sinh phần làm nơi yên nghỉ cuối cùng.

Năm 1916, Nội các mới của vua Khải Định có tiến cử Cụ làm Thượng thư Bộ Binh. Song Cụ xin miễn. Rồi lại tiến cử Cụ làm Thượng thư Bộ Học, Cụ trả lời: “Nên bổ người có cả Tây học để sửa đối học chính cho hợp thời”. Cụ bảo là “Hết thời làm quan rồi,Tây đã đầy cả vua (Duy Tân) và chiếm hết quyền, về lo việc gia hương còn có ích hơn !”

Những đóng góp về văn hóa - xã hội.

Năm 1906, Cụ đã viết Tờ trình “Đoàn Tuần phủ công đôc” đề suất việc cải cách nền giáo dục nước nhà gửi Thống sứ Bắc Kỳ Một học giả người Pháp đã nhận xét “Đó không phải là một bản trình bày kỹ thuật khô khan mà tác giả đã luận về công cuộc duy tân bằng những lời lẽ mà Đông Kinh nghĩa thục không thể chối bỏ”. “Ông cho rằng giáo dục cổ điển chỉ là tích lũy một cách đơn giản trí thức suốt đời chưa xong mà không ai nghiên cứu sâu. Trái lại nền giáo dục mới có thể cho phép tiếp thu nhiều kiến thức trong thời gian ngắn. Con người, bất kể giàu, nghèo, sang, hèn, thông minh hay ngu đần, có thể làm thay đổi căn bản tư duy, kiến thức, cung cách làm ăn nhờ phương pháp học tập mới” (Sách “Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam - một bộ máy hành chính trước thử thách (1820 - 1918)” - Emmanuel Poisson).

Cụ đã thể hiện ý tưởng trên bằng những việc làm cụ thể: Năm 1906, Cụ mở trường dạy quốc ngữ đầu tiên cho làng và tổng, lại cung tiến ruộng làm học điền và cử con trai (Đoàn Duy Bình) dạy giúp làng 3 năm để dân không mất tiền nuôi thày. “Học trò được hơn 80 người, đã nhiều người tấn tới” (Ghi trong “Nhi tôn tất độc”).

Cụ cũng trực tiếp tham gia biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa cho tiểu học, hiện vẫn còn lưu giữ trong thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam. “Đoàn Triển là một trong những người được triều đình trao trọng trách biên soạn sách giáo khoa theo nội dung mới, cho chương trình đào tạo mới dưới sự can thiệp của Nhà nước Bảo hộ. Những trăn trở về giáo duc tràn đầy trong các tác phẩm của ông, là nỗi niềm ông đau đáu mang theo trong suốt cuộc đời” (Tiến sĩ Hán Nôm Nguyễn Tô Lan).

Cụ đã cho con thứ 3: ông Đoàn Ký sang Pháp học rồi về dạy chữ Tây.

Cụ còn cho cháu nội Đoàn Thị Tuyết đi học quốc ngữ và Pháp ngữ.

Cụ cùng bà Kế ủng hộ sự thành lập trường nữ học Hàng Cót (Hà Nội) và tham gia bảo trợ nữ sinh.

Điển hình có cuốn “An Nam phong tục sách” viết năm 1908 gồm 72 mục nói về các phong tục Việt Nam. Trong mỗi mục đều có 2 phần: Phần giải thích, giới thiệu sơ lược về nội dung các phong tục và khái niệm liên quan, phần sau nêu ra ý kiến nhận xét về điểm tích cực và những điều cần bỏ, cần tránh, thể hiện tư tưởng tiên tiến của một nhà Nho, không nệ cổ, biết tiếp thu cái tốt, cái đẹp, đề cao phẩm chất, mong muốn cải tiến phong tục, nhằm nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân. (“An Nam phong tục sách” đã được Nhà xuất bản Hà Nội phát hành năm 2008).

Cụ cũng đã để lại nhiều bút tích Hán Nôm trên các văn bia, câu đối tại nhiều đình, chùa, đền, miếu, Đàn thờ Tổ họ Đoàn; trong các tác phẩm văn thơ, … còn được lưu giữ tới ngày nay.

Có thể nói: Cụ là một tác gia Hán Nôm có tiếng vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX và đang được các nhà nghiên cứu khai thác.

Ở Cụ cho ta thấy rõ: không có sự đối lập giữa sĩ phu cấp tiến và quan trường về công cuộc duy tân.

Nặng lòng với quê hương.

Khi về hưu, Cụ hầu như không có tài sản lớn cho riêng mình, vì bổng lộc khi làm quan Cụ đều đã dành cung tiến cho làng xã, lập các ấp mới cho bà con không có ruộng đến sinh sống …

Cụ chủ trì đóng góp xây dựng, tôn tạo các công trình văn hóa của làng, như: Đình làng (năm 1898) và xác định ngày Thánh húy Lê Hoàn: mồng 8 tháng 3, khi Cụ làm Tuần phủ Ninh Bình), “Cổ miếu thần nữ” (năm 1898), Văn chỉ (năm 1894), Trường học Hữu Thanh Oai (năm 1906), Nhà Tư mỹ hội quán (năm 1906) …

Cụ đã từng đề ra và gương mẫu thực hiện xây dựng nếp sống văn hóa mới trong làng, từ ma chay đến cưới xin,… (Xem “An Nam phong tục sách” và “Nhi tôn tất độc”). Cụ đã tham gia viết “Hữu Châu tân lệ” (Hương ước của làng), sửa đổi nhiều lệ làng để giảm bớt những việc không còn phù hợp. Cụ đã từng cung tiến nhiều ruộng để thu hoa lợi dành cho các việc công ích, bớt đi sự đóng góp của dân…

Khi nghỉ hưu, Cụ sống tại làng, luôn gần gũi với dân, vận động làm bến dá, trồng và giữ gìn hàng si bên bờ sông Nhuệ, trồng cây bàng lấy bóng mát, trồng hàng rào ô rô, tổ chức dạy nghề đăng ten … (đã có thời sản phẩm được nhiều người Pháp đến đặt hàng).

Xây dựng truyền thống họ Đoàn:

Có thể nói: Cụ Đoàn Triển đã thực hiện được những mong muốn của các bậc tiền nhân mà chưa có điều kiện làm về xây dựng truyền thống dòng họ.

Cụ đã từng viết: “… dẫu học chữ nào, đạo nào cũng phải giữ lấy cương thường đạo lý, việc lễ nghĩa không bỏ được, có lễ nghĩa mới là loài người, xin con cháu đừng quên lời ta nói thì phúc nhà ta” (“Nhi tôn tất độc”).

Năm 1898, Cụ đã cúng ruộng ở Mả Bùi để lập Đàn Tổ với 1 nhà bia bằng gạch; năm 1903 làm nhà bia bằng đá và 1 bia đá to; năm 1908 làm nhà bái đường và xây cột hoa biểu. Cụ đặt tên là”Đàn truy viễn”, làm nhà thờ chung của cả họ Đoàn thôn Hữu Thanh oai.Cụ đã cung tiến xây dựng nhiều nhà thờ các chi họ, như: Nhà thờ Hưng Khánh, Triệu Khánh, Đốc Khánh, Hiển Khánh, Tụ Khánh.(Ghi trong “Nhi tôn tất độc”)

Đối với con cháu, không phân biệt nội, ngoại, hay thuộc chi nào, Cụ đều nghiêm khắc dạy bảo, nhưng cũng rộng lòng cưu mang giúp đỡ trong điều kiện có thể và phù hợp với thời thế. Nhà 17 Ngõ Gạch Hà Nội của Cụ thời bấy giờ đã trở thành như 1 ký túc xá miễn phí cho các cháu: Đoàn Quỳ, sau thành 1 phó kỹ sư công chính; Đoàn Ân sau thành phán sự quan thuế; Nguyễn Dụ sau thành phó kỹ sư công chính; Nguyễn Tuyển sau thành Thấm phán; Đoàn Lãm có nhiều con nhỏ lại nghèo, Cụ đã cho xuống Bình Giang làm ruộng làm kế sinh nhai trong mấy chục năm.

Cụ không chỉ chăm lo học hành cho những người con có trí, mà còn cho cả ruộng nương, nhà cửa để từng con lập nghiệp; rồi chọn vợ, gả chồng với những nhà có nền nếp gia giáo, không câu nệ “môn đăng hộ đối” cũ kỹ xưa, nên nhiều người đã thành đạt, như ông Đoàn Kỳ (Ông Tú), Đoàn Ký (Ông Giáo), Đoàn Thêm, Đoàn Hựu. Ông Đoàn Hựu sau trở thành một trong 7 cán bộ đầu tiên của Bộ ngoại giao nước VN DC CH.

“Hỏi lòng tự thấy không nghi ngại”

Tâm sự của Cụ được thể hiện trong Bài minh khắc trước mộ phần, có câu (tạm dịch):

“ Đời người trăm năm biết đến ngày nào ta hết trách nhiệm”

Cụ đã tổng kết cuộc đời trong đôi câu đối trước lăng mộ:

Vấn tâm tự khả vô nghi trủng

Định luận hà tu hậu cái quan

Nghĩa là:

Hỏi lòng tự thấy không nghi ngại

Định luận chờ gì đậy cái quan.

Và:

Nào ai chin suối xương không nát

Có lẽ trăm năm miệng vẫn còn.

Cụ mất ngày 12 tháng 7 năm Kỷ Mùi (tức ngày15/8/1919) tại quê nhà, hưởng thọ 66 tuổi.

Đánh giá cuộc đời Cụ, Vua Khải Định đã có sắc phong ngày 19 tháng 7 năm Kỷ Mùi (tức sau 7 ngày Cụ mất), do quan Đại thần triều đình rước về làng, làm lễ trao cho con cháu Cụ. Sắc phong có đoạn viết:

“Nhớ thần, Đoàn Triển, nguyên là Thái tử Thiếu bảo, Hiệp tá Đại học sĩ, lính Nam Định tổng đốc Trí sự, Lãnh Chung anh, Nhĩ hà mẫn tú, Hiền thư. Sớm theo đường quan lộ, thủ tiết phò vua giúp nước. Trải qua bao nỗi gian lao, không quản xông pha nguy hiểm. Bao năm với công việc quan, đứng đầu tỉnh Nam Định, Người đã quên ăn, quên mặc, tận tụy hết mình. Thật là bậc anh tuấn, kỳ tài của dân của nước.

Nhớ lúc trẫm ngao du sơn thủy, xem xét dân tình, gặp Người thì tóc đã điểm sương, trông Người già lắm. Tổ quốc giờ đây được người hết lòng yêu nước, đem tài đức phục vụ nhân dân; ví như vì sao sáng trong đêm trường u tịch !

Trẫm nghĩ: Người là bậc lương đống của Triều đình, làm gương cho trăm họ, nay trẫm phong tặng tước lộc cho Người. Bố cáo cho con hiền, cháu thảo của Người được biết, theo đấy mà noi gương, và muôn dân trăm họ đó đây đều biết đến.

Danh thơm bốn bể, tài đức song toàn, như báu vật tuyệt vời của đất nước !

Thiên thu quần chúng còn nhớ mãi, bia miệng sử sách còn ghi.

Nay sắc phong. Hãy tuân theo !

Hoàng Triều Khải Định năm thứ tư,

Ngày 19 tháng 7 năm Kỷ Mùi”

Kỷ niệm 160 năm ngày sinh (1854 - 2014), 95 năm ngày mất (1919 - 2014) của Cụ Mai Viên Đoàn Triển, và 100 năm thành lập Sinh phần (1914 - 2014), xin ôn lại những nét chính trong Thân thế sự nghiệp đóng góp của Cụ đối với đất nước, quê hương, dòng tộc.

“Ôi ! Người ban ơn chẳng cần báo đáp mà người chịu ơn không thể quên, Thiên lý ở tại lòng người vốn không thể mất, bèn ghi chép sơ lược, dựng bia ở ngoài Sinh phần của ông để làm kỷ niệm cho ngày sau, và lại cũng để cho người đời sau trông vào” (Cử nhân Ngô Giáp Đậu, người Tả Thanh Oai viết trên “Bia kỷ niệm” năm 1914, hiện đặt trong Sinh phần).

Cụ Mai Viên Đoàn Triển thuộc đời thứ 12 họ Đoàn Hữu Thanh Oai, là tấm gương sáng về “Nghĩa nặng tình sâu”. Hậu duệ của Cụ đã tiếp nối truyền thống xưa, như đời 14 (cháu nội) có ông Đoàn Hữu Sử là dược sĩ cao cấp, ông Đoàn Đà là cán bộ tiền thân của binh chủng phòng không quân đội nhân dân Việt Nam. Hai ông đã từng dẫn dắt nhiều thanh thiếu niên trong làng tham gia từ ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều người đã trưởng thành. Đến đời 15 (chắt nội) ngày nay đã có 2 Tiến sĩ, 1 Thiếu tướng, …

36.Đoàn Thụy Liên:

Người xã Hải Yến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên thi đỗ thứ 12/56 người tại Hà Nam, khoa thi năm Đinh Hợi, Đồng Khánh thứ 2 (1887).

37. Đoàn Danh Chấn:

Ngưười xã Hải Yến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, thi đỗ thứ 29/56 người tại trường thi Hà Nam, khoa thi năm Đinh Hợi, Đồng Khánh thứ 2 (1887).

38.Đoàn Tấn:

Người xã Xối Thượng, tỉnh Nam Định, đỗ thứ 20/56 người tại trường thi Hà Nam, khoa thi Năm Đinh Hợi, Đồng Khánh thứ 2 (1887).

39.Đoàn Tùy:

Người xã Phú Môn, huyện Phú Vang, Thừa Thiên, khoa thi Năm Tân Mão, Thành Thái thứ 3 (1891).

40.Đoàn Khởi:

Người xã Ngọc Sa, tỉnh Quảng Nam, thi đỗ thứ 23/27 người tại trường thi Thừa Thiên, khoa thi Năm Tân Mão, Thành Thái thứ 3 (1891).

41.Đoàn Văn San:

Người xã Đức Nhuận, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, khoa thi năm Tân Mão, Thành Thái Thứ 3 (1891).

42. Đoàn Thúc Vĩ Ấm Sinh,

Người huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi, đỗ thứ 14/19 người (năm 27 tuổi), tại trường thi Bình Định, khoa thi Năm Giáp Ngọ, Thành Thái thứ 6 (1894).

43. Đoàn Thụy Giáp:

Người xã Hải Yến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Năm 35 tuổi thi đỗ thứ 12/60 người tại trường thi Hà Nam, khoa thi Năm Giáp Ngọ, Thành Thái thứ 6 (1894). Con cụ Đoàn Mậu.

44. Đoàn Văn Huy:

Người xã Mai Dịch, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Năm 37 tuổi thi đỗ thứ 16/60 người tại trường thi Hà Nam, khoa thi năm Giáp Ngọ, Thành Thái thứ 6 (1894).

45. Đoàn Tử Quang:

Quê xã Phụng Công, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh (nay xã Đức Hòa, huyện Đức Thọ), 82 tuổi thi đỗ thứ 29/30 người tại trường thi Nghệ An, khoa thi năm Canh Tý, Thành Thái thứ 12 (1900), được coi là sự kiện hiếm có trong lịch sử thi cử Việt Nam. Được bổ chức Huấn đạo huyện Hương Sơn.

46. Đoàn Tố:

Người xã Mỹ Đức, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định, thi đỗ thứ 12/18 người tại trường thi Bình Định, khoa thi năm Quý Mão, Thành Thái thứ 15 (1903).

47. Đoàn Ngưng:

Người xã Hữu Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội, 38 tuổi thi đỗ thứ 6/60 người tại trường thi Hà Nam, khoa thi năm Bính Ngọ, Thành Thái thứ 18 (1906).

48. Đoàn Như Chương:

Người xã Hải Yến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, 28 tuổi thi đỗ thứ 24/50 người tại trường thi Hà Nội, khoa thi năm Bính Ngọ, Thành Thái thứ 18 (1906).

49. Đoàn Vỹ:

Người Hữu Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội (con cháu cụ Đoàn Triển), 26 tuổi đỗ thứ 35/50 người tại trường Hà Nam, khoa thi năm Bính Ngọ, Thành Thái thứ 18 (1906).

50. Đoàn Quân:

Người xã Đô Quan, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, 21 tuổi đỗ thứ 27/30 người tại trường thi Hà Nam, khoa thi năm Nhâm Tý, Duy Tân thứ 6 (1912).

51. Đoàn Đạm:

Người xã Liễu Đôi, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, 25 tuổi đỗ thứ 29/30 người tại trường thi Hà Nam, khoa thi năm Nhâm Tý. Duy Tân thứ 6 (1912).

52. Đoàn Đình Chi:

Người xã Đào Lãng, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, 24 tuổi đỗ thứ 24/32 người tại trường thi Thừa Thiên, khoa thi năm Ất Mão, Duy Tân thứ 9 (1915). Được bổ làm Tri huyện Bình Khê. Cha ông Chi là Đoàn Đình Duyệt, thượng thư Bộ công, Hiệp tá Đại học sĩ Ninh lãng Nam, em là Đoàn Đình Phương, Cử nhân khoa Mậu Ngọ (1918).

53. Đoàn Thăng:

Người xã Hải Yến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, 24 tuổi thi đỗ thứ 21/40 người tại trường thi Hà Nội - Nam Ninh (thi chung), khoa thi năm Ất Mão, Duy Tân thứ 9 (1915).

54. Đoàn Đình Phương:

Người xã Đào Lãng, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, 29 tuổi thi đỗ thứ 9/29 người tại trường thi Thừa Thiên, khoa thi năm Mậu Ngọ. Khải Định thứ 3 (1918). Ông là em ruột của Đoàn Đình Chi.

*Tài liệu trên đây là trích lục trong quyển " Quốc triều Hương khoa lục" của cử nhân Nho học Cao Xuân Dục. Được dịch ra Quốc Ngữ - NXB thành phố Hồ Chí Minh ấn hành 1993, có bổ sung về vài điểm về công việc và chức tước của một số vị, tham khảo trong sách " Các nhà khoa bảng Việt Nam" của Ngô Đức Thọ - NXB văn học 1993 và "Sách sứ thần Việt Nam" NXB văn hóa thông tin năm 1996.....

13.HỌ ĐOÀN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN: TỪ CUỘC ĐẤU TRANH ĐƯA ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 THÀNH CÔNG ĐẾN NAY.

Tháng 8/1945, Pháp nổ súng tái chiếm Nam kỳ, mở đường xâm lược Việt Nam lần hai.

Tháng 12/1946, Pháp ra tối hậu thư đòi Chính phủ Việt Nam ở Hà Nội phải giải tán quân đội, giao nộp vũ khí. Biết đã tới giới hạn cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cử một bộ phận quân đội ở lại cầm cự với Pháp tại Hà Nội, còn lại rút hết lên vùng rừng núi phía Bắc, lập căn cứ kháng chiến.

Không đựơc đáp ứng tối hậu thư, Pháp tấn công Hà Nội, quân Việt Nam chặn quân Pháp ở đó hơn hai tháng, khi đại quân và tài sản đã di tản lên căn cứ kháng chiến an toàn thì rút đi. Pháp chiếm được Hà Nội và sau đó mở rộng ra khắp vùng đồng bằng bắc bộ. Tuy nhiên không tiêu diệt được chính phủ của Hồ Chí Minh.

Pháp tuy chiếm được Việt Nam nhưng phần lớn chỉ có đủ quân để giữ các vùng đô thị. Nhân dân Việt Nam tổ chức đánh du kích ở vùng nông thôn và rừng núi. Pháp càng đánh càng đuối sức trong khi quân Việt Nam càng đánh càng trưởng thành và lớn mạnh. Đến năm 1950 thì quân đội Việt Nam đã bắt đầu lấy lại thế chủ động có thể đánh những trận lớn trực diện. Và đến năm 1953 thì Pháp đã rơi vào tình thế bị động đối phó.

Năm 1954, với nỗ lực nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường, Pháp ra sức càn quét, tăng cường bắt lính để mở rộng nguỵ quân, xin thêm viện binh, viện trợ vũ khí. Xây dựng những cứ điểm phòng thủ ở miền Bắc để thi hành kế hoạch Nava: phòng thủ ở miền Bắc, bình định miền Nam, sau khi bình định miền Nam sẽ có thêm nhiều Ngụy quân và thanh thế tiến ra miền Bắc tiêu diệt quân Bắc Việt. Và Điện Biên Phủ là một trong những cứ điểm lớn nhất, mạnh nhất, đông quân nhất và “không thể công phá” tại Đông Dương đã được xây dựng với sự giúp đỡ của người Mỹ. Pháp định dùng nó làm cái bẫy để nhử quân Việt Nam vào đánh để tiêu diệt. Thế nhưng…

Ngày 7/5/1954, cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt hoàn toàn. Quân Việt Minh bắt sống toàn bộ 16 nghìn quân Pháp trong đó có cả Sở chỉ huy. Cả thế giới chấn động. Thất bại này khiến Pháp phải ký hiệp định Giơ- ne- vơ chấm dứt xâm lược Việt Nam, chấm dứt sự hiện diện của Thực dân Pháp tại Việt Nam.

Pháp rút, Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam

Cuộc chiến của nhân dân Việt Nam chống kéo dài từ đó tới năm 1975. Trong suốt 20 năm đó .

Đoàn Như Khuê (1883 – 1957),

Tên tự: Quý Huyền, hiệu: Hải Nam, là nhà báo, nhà thơ Việt Nam.

Đoàn Như Khuê, người làng Hải Yến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Thuở nhỏ ông theo học chữ Hán, có đi thi Hương mấy lần nhưng đều hỏng.

Rồi ông bỏ học chữ Hán, tự học Quốc ngữ; ra Hà Nội viết sách, dịch sách, và viết cho tờ Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp chí...

Sau năm 1945, ông tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc Liên khu III.

Khi Hiệp định Genève 1954 được ký kết, hòa bình được tái lập; ông về định cư ở Hà Nội, và vẫn sống bằng nghề dịch thuật và văn triết cổ Trung Quốc cho đến khi mất (1957).

Đoàn Thêm (1915 – 2005)

Đoàn Thêm là nhà luật học, nhà thơ, sinh ngày 5-11-1915 tại Hà Nội, quê làng Hữu Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay là huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, con trai nhà giáo dục, cử nhân Đoàn Triển (1854-1919). Thuở nhỏ học tại trường Bưởi (Chu Văn An), đậu bằng Tú tài Pháp Việt, rồi vào trường Đại học Đông Dương, tốt nghiệp cử nhân luật trước năm 1945.

Trong kháng chiến chống Pháp ông tản cư ra vùng tự do, khoảng năm 1951 ông hồi cư về Hà Nội, sau năm 1954 vào làm việc tại Sài Gòn, từng làm việc hành chánh tại văn phòng “Phủ Tổng thống” thời Ngô Đình Diệm (1954-1963). Sau đảo chính 1-11-1963, ông bỏ đời sống công chức, viết văn làm báo. Những năm 60 có lúc ông được trao giải thưởng “văn chương toàn quốc” (Sài Gòn), ông đã từ chối vì cho mình là một công chức cao cấp của chính quyền thì không nên nhận giải.

Sau năm 1983 ông được nhà nước Việt Nam cho phép định cư cùng con cháu tại Canada, đến ngày 8-8-2005 ông qua đời, thọ 90 tuổi.

Đoàn Quang Đáng (?-1997)

Ông Đáng quê ở xã Mỹ Lộc, Tân Hồng, tỉnh Vĩnh Long, là ủy viên BCHTW ĐC Việt Nam từ khóa III, IV, V, phó Bí thư TW cục Miền Nam. Ông là cháu của Đoàn Văn Phú - Thượng thư thời Minh Mạng, hậu duệ của cụ Đoàn Bá Tuân

Đoàn Văn Chất (?-)

Ông Chất là Ủy viên BCHTW ĐCS Việt Nam các khóa V, VI, VII, Phó trưởng ban kiểm tra Trung ương. Ông là hậu duệ họ Đoàn, thuộc dòng cụ Đoàn Duy Tinh ở Huế lánh nạn sau sự kiện “Giặc Chày Vôi” đã di cư vào Nam bộ

Đoàn Văn Cừ (1913-2004),

Nhà thơ Đoàn Văn Cừ, còn có các bút danh Kẻ Sĩ, cư sĩ Nam Hà, sinh ngày 25-11-1913 tại Hà Nội, nguyên quán xã Nam Lợi, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định.

Trước cách mạng tháng 8-1945, ông dạy học, làm thơ, viết văn đăng trên các báo ở Hà Nội, từng tham gia phong trào công nhân ở nhà máy dệt Nam Định cho đến năm 1945.

Sau ngày Pháp tái chiếm Việt Nam, ông tham gia Hội đồng nhân dân tỉnh Nam Định (1946). Năm 1948, ông nhập ngũ, có mặt trong cuộc trường kỳ kháng chiến đánh Pháp trên mặt trận văn hóa, văn nghệ ở Liên khu III. Từ năm 1959, ông là cán bộ biên tập Nhà xuất bản phổ thông ở Hà Nội.

Năm 1974, ông về công tác tại địa phương (Ủy ban Mặt trận tổ quốc huyện Nam Ninh) ủy viên Ban chấp hành Hội văn nghệ tỉnh Hà Nam Ninh, rồi về làm việc tại thành phố Nam Định.

Ông mất ngày 27-6-2004 tại Nam Định.

Ông từng được giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt 5)

Ông đã được nhận giải thưởng văn học Nguyễn Khuyến hạng B (không có hạng A) của ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh (1985).

Đoàn Văn Bơ (1917-1958),

Đoàn Văn Bơ là liệt sĩ hiện đại, còn có tên là Cao Hoài Đông, bí danh hoạt động là Tư Đông, sinh năm 1917 tại xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, lên Sài Gòn học Trường bách nghệ, tức trường Cao Thắng ngày nay. Sau làm công nhân ở xưởng Ba Son.

Ông tham gia cách mạng, sau khi Nhật đảo chánh ngày 9-3-1945, hoạt động trong tổ chức Thanh niên tiền phong. Ngày 23-9-1945 cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông theo tổ chức vào chiến khu. Cuối năm 1946, vì nhu cầu công tác, ông trở về thành phố, trở lại làm việc tại xưởng Ba Son. Năm 1952 bị lộ nên lại vào chiến khu.

Năm 1954, ông ở lại hoạt động ở nội thành được cử vào Thượng vụ Đặc khu Sài Gòn Chợ Lớn. Năm 1958 ngày 31 tháng 10 ông bị bắt và mất tại nhà lao Hàng Keo Gia Định.

Đoàn Văn Ưu (1921-1999)

Đoàn Văn Ưu là Tướng lãnh QĐNDVN, còn gọi là Nam Long, dân tộc Tày, quê xã Đề Thám, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Ông tham gia cách mạng từ năm 1940, cựu sinh viên Trường Võ bị Hoàng Phố - Trung Quốc từ năm 1944. Từng là chính trị viên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân năm 1944.

Các chức vụ từng đảm nhiệm: Trung đoàn trưởng Trung đoàn Hải Dương, Tham mưu trưởng, Đại đoàn phó Đại đoàn 34, Phó Tư lệnh Quân khu 4 (1966-1967), Phó Giám đốc Học viện Quân sự, Phó Giám đốc Học viện Quân sự cao cấp, được nhà nước và Quân đội NDVN tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất.

Ông là một trong các tướng lĩnh nổi tiếng và có uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đoàn Trọng Truyến

(15 tháng 1 năm 1922 - 8 tháng 7 năm 2009),

Ông là Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân; nguyên Bộ trưởng, Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ từ tháng 5 năm 1984 đến tháng 2 năm 1987. Ông là một trong những người khởi xướng thành lập Ban liên lạc họ Đoàn Việt Nam, thực hiện việc liên kết dòng tộc, tìm về cội nguồn, tôn vinh tổ tiên, phát huy truyền thống dòng họ, ông là Trưởng Ban Liên lạc họ Đoàn Việt Nam trước đây.

Con trai ông là Đoàn Mạnh Giao làm Bộ trưởng trong chính chủ

Đại tướng Đoàn Khuê,

Tướng lãnh QĐNVN (1923–1998)

Đại tướng Đoàn Khuê sinh 29 tháng 10 năm1923, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ năm 1991 đến năm 1997.

Quê ông quê xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1945 (trước Cách mạng Tháng Tám), tham gia lập Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Quảng Bình (tháng 6 năm 1945), làm ủy viên quân sự của Tỉnh ủy. Ông nhập ngũ tháng 9 năm 1945, và trong kháng chiến chống Pháp đã giữ các chức vụ Chính trị viên Trường Lục quân ở Quảng Ngãi, Chính ủy trung đoàn, Phó chính ủy sư đoàn.

Ông từng là Chính ủy sư đoàn 351 pháo binh, Phó chính ủy Quân khu IV, Tư lệnh Quân khu V, rồi Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.

Thời kỳ 1987-1991 ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau đó làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Ông được phong hàm Thượng tướng năm 1984, Đại tướng năm 1990.

Ông là ủy viên Trung ương Đảng từ khóa IV đến khóa VII, ủy viên Bộ Chính trị các khóa VI, VII (1991, đến lúc mất), đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII, IX.

Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng: Huân chương Sao vàng (truy tặng năm 2007), Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân, huy chương khác.

Thân mẫu của ông là bà Nguyễn Thị Dương (1902). Bà có 5 người con là Liệt sĩ, được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Ông có 2 người em trai là sĩ quan cao cấp của quân đội: Trung tướng Đoàn Trương và Đại tá Đoàn Thúy.

Đoàn Chuẩn : Nhạc sĩ

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn sinh ngày 15-6-1924 tại Hà Nội, nay là thành Phố Hà Nội. Ông mất 2001

Thuở nhỏ, ông học ở Hà Nội, tiếp thụ một nền văn hóa, giáo dục có truyền thống Âu Tây và đã có tác phẩm nổi tiếng như:

Lá đổ muôn chiều, Gửi gió cho mây ngàn bay, Tà áo xanh, Gửi người em gái đều là những nghệ phẩm lãng mạn trong tiến trình âm nhạc mới của Việt Nam. Các tác phẩm của ông đã làm say mê giới yêu nhạc lãng mạn từ thập niên 40-50 của thế kỉ XX. Hầu hết tác phẩm ông đều ký tên chung với người em kết nghĩa là Từ Linh (mất trước ông).

Trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954) ông tản cư vào vùng tự do, tham gia công tác văn nghệ tại địa phương Thanh Hóa

Hòa bình tái lập (1954), ông hồi cư về Hà Nội. Từ đó về sau rất ít nhạc phẩm của ông đến với công chúng.

Ông mất vào ngày 15-11-2001 tại nhà riêng ở Hà Nội, thọ 77 tuổi.

Thiếu Tướng Đoàn Huyên - (1925-2002)

Thiếu tướng Đoàn Huyên quê ở xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

Ông nguyên là Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân.

Ông được tặng thưởng Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vể vang (hạng Nhất, Nhì, Ba) Huân chương Tự do hạng Nhất của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương ‘’Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ’’, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng. Thiếu tướng (02.1983)

Ông mất năm 2002 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Đoàn Giỏi: Nhà văn (1925 – 1989)

Nhà văn Đoàn Giỏi bút danh Nguyễn Hoài, Huyền Tư, Nguyễn Phú Lễ. Ông sinh ngày 17-5-1925. Quê Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Định Tường, nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Thuở nhỏ học tại Mỹ Tho, Sài Gòn; viết văn, làm thơ từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong kháng chiến chống Pháp có lúc ông phụ trách công tác tuyên huấn, rồi phục vụ trong ngành an ninh.

Năm 1954 tập kết ra Bắc, từng là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.

Sau năm 1975 về công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông mất năm 1989.

Ông để lại nhiều tác phẩm như:

-Những dòng chữ máu Nam Kì 1940 (1948)

-Người Nam thà chết chứ không hàng (1948)

-Đường về gia hương (1949)

-Cá bống mú (1956)

-Trần Văn Ơn (1955)

-Đất rừng phương Nam (1957)

-Những chuyện lạ về cá (1981)

-Tê giác giữa ngàn xanh (1982)...

Đoàn Duy Thành, sinh năm 1929;

Ông, nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng CHXHCN Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đối ngoại; Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Hiện, ông là Trưởng Ban liên lạc Cựu tù Côn Đảo. Về hoạt động dòng họ, ông đương là Chủ tịch Hội đồng Đoàn tộc Việt Nam.

Ông là hậu duệ của cụ Đoàn Duy Hiền (gốc từ Hà Nội về sinh cơ lập nghiệp tại Tường Vu- Kim Thành- Hải Dương từ TK 16)

Ông từng trải qua 2 năm tù đày dưới chế độ thực dân pháp (từ Hải Phòng đến Côn Đảo). Mặc dù bị bọn thực dân tra tấn dã man tàn bạo, chết đi sống lại nhiều lần, bị bí mật đưa đi thủ tiêu (sau này xếp hạng thương binh ¾), nhưng ông vẫn lạc quan, giữ vững khí tiết cách mạng, kiên trì đấu tranh vì sự nghiệp của Đảng, của dân tộc.

Ông là người có nhiều gắn bó với Hải Dương trên mặt trận đường 5 trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1943- 1945) và sau này là Hải Phòng cả trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ và trong công cuộc “vượt khó đi lên”, xây dựng và phát triển của Hải Phòng. Ông đã trải qua nhiều nhiệm vụ từ cơ sở, đến Chủ tịch và Bí thư Thành ủy. Hải Phòng trở thành điểm sáng đi đầu trong nhiều lĩnh vực ở nhiều thời kỳ như: Thương nghiệp, phát triển sản xuất hàng tiểu thủ công, vân đông quần chúng xây dựng thí điểm mô hình phát triển nông nghiệp (sau này được nhân rộng ra cả nước) thời chống Mỹ; trong việc trị thủy và quai đê lấn biển, xây dựng hệ thống điện, đường, trường, trạm, mở rộng cảng, khu công nghiệp, mở rộng giao thương, phát triển đời sống kinh tế, văn hóa theo cơ chế mới ngay từ những ngày đầu của công cuộc đổi mới vv…

Đoàn Văn Luyện

Là một trong các thiếu niên dũng sĩ miền Nam có nhiều thành tích trong kháng chiến chống Mỹ xâm lược, được ra thăm miền Bắc, được chụp hình với Bác Hồ và Bác Tôn.

Đoàn Thúy Ba:

Bác sĩ, Anh hùng lao động, Thầy thuốc của dân. BS. Đoàn Thúy Ba đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Giải phóng hạng ba, Huân chương Lao động hạng nhất và hạng ba.

Nhạc sĩ Thuận Yến

Tên khai sinh của ông là Đoàn Hữu Công, sinh ngày 15/8/1935, quê ở Duy Xuyên, Quảng Nam. Ông tham gia công tác từ năm 1949, là cán bộ văn nghệ của Ðoàn văn công Khu ủy Liên khu V, sau đó theo học lớp Trung cấp sáng tác tại Trường âm nhạc VN. Bước vào kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông viết ngay những bài hát động viên thanh niên lên đường: Ba lô ta buộc cho chặt, Vành lá nguỵ trang rất xanh... Năm 1965, lên đường trở lại chiến trường sáng tác, lấy bút danh là Thuận Yến, với những ca khúc của thời kỳ này như: Hát mừng quê ta giải phóng, Mỗi bước ta đi, Bài ca tiếp vận, Mỗi dòng thư Bác sáng ngời niềm tin. Ông đã có mặt trên chiến trường Trị Thiên- Huế và khi cuộc đấu tranh chính trị phát triển mạnh, ông đã viết ca khúc Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc được nhanh chóng phổ biến rộng rãi ở cả hai miền Nam, Bắc.

Đoàn Thị Liên:

Chị là Anh hùng liệt sĩ, có câu nói nổi tiếng:

Thà hy sinh chứ không để thương binh bị thương lần thứ hai.

Chị Đoàn Thị Liên sinh năm 1944, trong gia đình nông dân nghèo ở ấp 1, xã Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương). Quê hương chị có chi bộ cộng sản đầu tiên trước tháng 8 - 1945, có đội thanh niên tiền phong vũ trang xã do đồng chí Nguyễn Văn Ngọ (Bảy Quỳ) chỉ huy đứng ra bảo vệ nhân dân giành chính quyền thắng lợi tại quận lỵ Bến Cát.

Tấm gương anh dũng của Đoàn Thị Liên và câu nói bất hủ “Thà hy sinh chứ không để thương binh bị thương lần thứ hai” đã trở thành lời thề khắp các mặt trận, trở thành truyền thống của các đơn vị thanh niên xung phong Giải phóng Miền Nam. Đoàn Thị Liên được truy tặng Huân chương Thành đồng hạng ba, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đoàn Lê -Nữ văn sĩ và Chị em nhà họ Đoàn

Gia đình họ Đoàn này có đông chị em. Đây vốn là một gia đình chuyên nghề Nho – Y nổi tiếng nền nếp gia phong ở Hải Phòng. Các bà đều được thụ hưởng nền giáo dục rất nghiêm của song thân. Cả mấy chi em bà đều thành gia thất với những người có vị trí trong xã hội. có đóng góp tích cực cho xã hội trong nhiều lĩnh vực như văn hóa, nghệ thuật, y học…

Bà Đoàn Thị Nhỏ - Người vợ "Tư lệnh Biệt động"

Bà là một chiến sĩ Biệt động thành. Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, bà là một trong các giao liên hướng dẫn đơn vị Biệt động số 3 tập kết đánh vào Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy. Bà chính là vợ của ông Tư Chu (Nguyễn Đức Hùng), nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng quân khu kiêm Chỉ huy trưởng Biệt động Sài Gòn - Gia Định.

Bà Đoàn Thị Nghiệp

Mọi người thường gọi bà là cô Tám Nghiệp (Đoàn Thị Nghiệp), Tỉnh ủy viên, Tỉnh đội phó tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ngày 6-11-1978, má Đoàn Thị Nghiệp được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và năm 1995 được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Sau chiến tranh, Tổ quốc và nền báo chí cách mạng tôn vinh, ghi công 260 nhà báo liệt sĩ Thông tấn xã Việt Nam, trong đó riêng Thông tấn xã giải phóng Khu 8 có tới 21 nhà báo liệt sĩ. Ở Mỹ Tho, có bà má kiên gan cầm súng đánh Pháp, đuổi Mỹ, lặng thầm dìu dắt con trở thành nhà báo từ những năm 1960. Rồi cũng chính người má ấy thắt ruột, thắt gan lần lượt chứng kiến, chôn cất hai con khi họ ngã xuống giữa chiến trường khốc liệt. Đó chính là bà Đoàn thị Nghiệp và 2 con là liệt sĩ Bùi Văn Thưởng và Bùi Văn Tấn.

Ngày 6-4-1972, trong trận phá vây tại kênh Bùi Tường, Phú Nhuận, Cai Lậy, bà Tám Nghiệp cùng đội công tác Tỉnh đội Mỹ Tho chiến đấu với một trung đoàn thuộc Sư đoàn 7 ngụy. BàTám Nghiệp cùng đồng đội đánh trả quyết liệt, bắn tới viên đạn cuối cùng trước khi hy sinh.

Nghệ sĩ nhân dân Đoàn Dũng

Đoàn Dũng trở thành một trong những cái tên nổi trội trên sân khấu Việt Nam trong thời kỳ vàng son nhất. Khán giả nhớ đến ông với những vai diễn để đời trong các vở "Người cha thô bạo", "Khúc thứ 3 bi tráng"…Trong điện ảnh, ông cũng thành công không kém, với các vai Đại đội trưởng (phim "Biển lửa"), vai Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp (phim "Bức tường không xây"),…Không những thế, ông còn là một người thầy đáng kính của không ít nghệ sĩ danh tiếng. Cuộc đời ông đã đi qua nhiều khúc quanh, với đủ ngọt ngào, sướng khổ mà nghệ thuật mang lại. Và cũng chỉ có hai chữ nghệ thuật mới đủ sức nặng để neo ông với mọi câu chuyện, mọi đề tài...

Đoàn Nguyên Đức:

Ông là một Doanh nhân thành đạt, nêu một tấm gương tốt cho thế hệ trẻ Việt Nam về tinh thần và nghị lực tự vươn lên từ nghèo khó, trở thành một trong những người giàu nhất nước

Năm sinh: 1962

Nơi sinh: Bình Định

Học vấn: 12/12

Ông là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai. Ông cũng là người có công trong việc đào tạo đội bóng đá trẻ Viêt Nam trong mấy năm gần đây.

Đoàn Thị Kim Hồng: Đệ nhất Hoa hậu quí bà thế giới

Quê hương của TS. Đoàn Thị Kim Hồng là vùng đất Quảng Bình. Bà được nhiều người biết đến với danh hiệu Đệ nhất Hoa hậu quý bà thế giới. Tiến sĩ Đoàn Thị Kim Hồng không chỉ là một phụ nữ thành đạt trong kinh doanh, mà còn là người đi đầu trong việc đứng ra tổ chức các cuộc thi về sắc đẹp hiện nay./.

Bài viết có sử dụng tư liệu của Ông Đoàn Văn Minh và Ông Bùi Văn An ĐOÀN MINH TUẤN cập nhật bản đồ sưu tầm.